I
VĂN LANG CHIẾN SỰ 2
SỬ TRUYỆN
PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
THIÊN ẤN THIÊN BÚT
GÒ HỘI
ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI
2013
QUYỂN 1
NGUYỂN ĐỨC THÔNG
PHẦN
MỘT
Văn Lang trù phú cảnh sang
giàu.
Vàng, ngọc, trân châu, sắt, đồng,
thau.
Gạo trắng, cá tươi, người đông đúc.
Lụa là gấm vóc, ngọc trắng phau.
Quê, thị, gần, xa, luôn nô nức.
Hội đình, chợ, quán, cảnh chen nhau.
Phương Bắc ngày đêm lòng thèm khác.
Xâm lăng cướp lấy, trước nối sau.
*
* *
Nói đến nước Xích Quỹ, thời
Kinh Dương Vương, thời phải nói đến sự giàu có, không những giàu có về vàng,
bạc, châu, báu, sơn hào hải vị, món ngon vật lạ, nhất là văn minh về lúa nước,
nhất là lúa hổ Rằng, lúa Hổ Chưởng, lúa
Chiêm, lúa Thần Nông, lúa Xích Khoán, lúa Thiền Minh, lúa An Cựu, lúa Hạ Bạch,
lúa Thanh Vu, lúa Bạch Kê, lúa Tẻ, lúa Thuần, lúa Mạch, lúa Kim Ô, lúa Hoàng
Đế, lúa Xích Kê, lúa Thượng, lúa Hạ, lúa Phì, lúa Lùn, lúa Thơm, lúa Nếp Tẻ,
lúa Đuôi Phụng, lúa Bạch Mạc, và còn nhiều giống lúa quý hiếm khác nữa, dân
Bắc Văn Lang lúa thóc đầy bồ, phải nói cuộc sống dân nước Xích Quỹ, không những
thái bình thịnh trị hàng nghìn nghìn năm, trong cuộc sống no cơm, ấm áo. Mà còn
béo bở về thu nhập qua đường trao đổi buôn bán, Một đất nước béo bở như thế,
luôn luôn khơi dậy lòng tham lam thèm muốn, những nước lân cận nhất là những
nước lân cận Phương Bắc, chúng thèm khác đến nổi ăn không ngon ngủ không yên,
lúc nào cũng mơ tưởng chiếm cho được Bắc
Văn Lang, coi như làm chủ sở
hửu nền văn minh lúa nước, cơm no áo ấm thời còn gì bằng. Cho nên nước Xích Quỹ,
lúc nào cũng rình rập mối
nguy mất nước, bởi quân xâm lược Phương Bắc rình rập ngày đêm .
*- Cùng thời lúc ấy, một vị cứu tinh đất nước
ra đời, chính là Quốc Tổ Hùng Vương, người
con độc nhất của Kinh Dương Vương, Quốc Tổ
Hùng Vương ra đời chuyển xây tình thế, không những đánh tan mộng xâm
lược Phương Bắc, mà còn mở rộng nước Xích Quỷ vào Nam, trở thành nước Văn Lang
rộng lớn, gấp ba lần nước Xích Quỹ, sự
mở rộng bờ cõi về Nam làm cho nước Văn Lang trở nên hùng mạnh, không có một đất
nước nào hùng mạnh hơn.
Đất nước Văn Lang chia ra làm
ba miền, Bắc Văn Lang, hầu hết là toàn bộ Nước Xích Quỷ, rồi tới
Trung Văn Lang, kế đến là Nam Văn Lang.
Khai
dựng lập lên nước Văn Lang, Quốc Tổ không ở Bắc Văn Lang, mà ở Nam Văn Lang, đây
là một điều bí mật của Quốc Tổ, vì Quốc Tổ biết trước Bắc Văn Lang, Trung Văn Lang,
một khi văn hóa Cội Nguồn đã mất, nền Quốc Đạo không còn, trở nên độc quyền, độc
tài, độc trị, theo xu hướng Phương Bắc, sẽ bị Bắc Phương chiếm lấy, đồng hóa dân chúng theo văn hóa Phương Bắc. Nhưng
giặc Phương Bắc không bao giờ chiếm lấy được Nam Văn Lang, vì Nam Văn Lang là Địa Long Vũ Trụ. Thánh
địa linh thiên nhất địa cầu, nên văn hóa Phương Bắc không thể đồng hóa nổi dân
tộc Nam Văn Lang, dù trải qua hàng nghìn năm xâm lược đồng hóa, theo ý đồ
Phương Bắc, những gì biết trước của Quốc Tổ không gì là sai cả.
*- Bắc Văn Lang nước Xích Quỷ, phần lớn đất
đai Giao Chỉ, Tới thời Hùng Vương, được
mở rộng gấp đôi, Bắc Văn Lang Nước Xích Quỷ, Giao Chỉ, vì thế mà trở nên vô
cùng hưng thịnh, lại phân chia thêm ra nhiều Bộ, Châu, Quận, Huyện. Bắc Văn Lang đất đai phì nhiêu, nhờ có nhiều
con sông lớn bồi đắp, như sông Dương, sông Trường, sông Lạc, sông Âu, chia ra
nhiều sông nhánh khác nữa, bồi lấp thành đất đen và bốc hơi rất mạnh, rất phù hợp
cho nền nông nghiệp lúa nước. Những cánh đồng lớn, cò bay thẳng cánh, sông ngòi
kinh rạch chằn chịt, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, đem lại sự hùng mạnh
cho quân lực, nếu có được Bắc Văn Lang thời không lo gì sự đói nghèo nữa, không
lo thiếu lương thực nuôi quân, nên không có thế lực mạnh nào mà không muốn
chiếm lấy, phải nói là chiếm lấy cho bằng được.
Do sự trù phú đất đai, nhiều giống lúa
tốt, sông ngòi kinh rạch, khí hậu ôn hòa thiên nhiên ưu đãi nầy, luôn luôn khơi
dậy lòng thèm khác những tay háo chiến, mộng bá Vương, nên Bắc Văn Lang càng về
cuối thời Hùng Vương càng chiến tranh xâm lược dữ dội từ Phương Bắc, xâm lược
về Phương Nam, đất nước Văn Lang.
*- Những trận xâm lược kinh thiên động địa chưa
từng có trong lịch sử, nhất là sự xâm lược của Nhà Ân, Ân Thọ Trụ Vương, ở vào
thời hạ Hùng Vương, thời thứ 3 Hùng Tiên Lang, ( Điển Lang) trong 18 thời hạ Hùng Vương, 1141 đến 1139
trước công nguyên, quân Nhà Ân bị quân Văn Lang đánh tả tơi, thây phơi chật
đất, làm phân cho đất Văn Lang, quân thù kinh hồn bạc vía, không còn dám mơ
mộng xâm lược nữa, dân Văn Lang
sau khi thắng quân xâm lược, thời không còn coi Phương Bắc ra gì, nên mất đi đề
cao cảnh giác, sự yên bình ấy kéo dài gần 200 năm, cho đến thời Hùng
Huy Vương ( Pháp Hải Lang ) Hùng Vương đời thứ 6. Thời Phương Bắc lại một
lần nữa xâm lược, 961 đến 930 trước công nguyên, do con cháu của Trụ Vương Đắc
Kỷ, còn sống sót lập lên nước Man Du cách
Tây Bắc Văn Lang hơn 100 dặm, liên thông với nước Hồ, nước Hung Nô, ba nước Phiên
Ngung nầy chiếm một lãnh địa vô cùng rộng lớn, không chịu lệ thuộc Nhà Chu, nên xưng Vương, ngang tầm các Vương Nhà Chu, các
Vương Nhà Chu giận lắm nhưng không làm gì được, ba nước Phiên Ngung, vì nhờ địa
thế hiểm trở đồi rừng núi non trùng điệp, nên rất khó mà hạ được ba nước Tam
Vương nầy. Ba nước Phiên Ngung nầy mỗi ngày mỗi mạnh, nhưng không dòm ngó đến
Phương Bắc, vì Phương Bắc không hưng thịnh như Phương Nam, nhất là về đất đai
cũng như nền văn minh lúa nước, nhất là ngành Luyện Thép vô cùng bí mật của nước Văn Lang, không dễ gì lọt bí quyết
ra bên ngoài, trong Dòng Dõi Vua Hùng cũng ít người được biết, vì thế nếu
chiếm được Văn Lang thời sự quý hiếm nào cũng có, ba nước Phiên Ngung nầy thèm
khác ngày đêm, hợp lực cùng nhau đánh chiếm Bắc Văn Lang.
Quân Ân, Quân Hồ, Quân Hung Nô , vượt qua
Tây Bắc Văn Lang đánh xuống Bắc Văn Lang, nhà Tây Chu, Di Vương biết thế nhưng giả đò như không biết, ở thế
ngư ông đắc lợi, Ân Mao Vương, là cháu
chắt Võ Cảnh,
Võ Cảnh là
con của Vua Trụ, Đắc Kỷ. Chu Di Vương nghĩ nếu Ân Mao Vương thắng thời ta cũng có
phần, nới rộng thêm trấn chư hầu, Nước
Ngô, Nước Sở, Nước Tề, được mở rộng
về Phương Nam qua đất Bắc Văn Lang, nếu thua thời Vua Di Vương, cũng trừ đi được mối hậu họa lớn mạnh của con cháu Nhà Ân, kẻ thù không đội trời chung với Nhà
Chu.
* * *
PHẦN 2.
đây nói về Chu Võ Vương, diệt được Đắc Kỷ, Trụ Vương
xong, thời cũng bắt được hai đứa con của Đắc Kỷ, là Vũ Canh và Võ Cảnh, trốn sau hậu cung, Vũ Canh chống cự nên đã bị giết, chỉ còn lại Võ Cảnh. Võ Cảnh là con trai Đắc Kỷ mới sanh sau, là con út sau
cùng của Trụ Vương.
Võ Cảnh tuy
còn nhỏ nhưng khôn lanh vô cùng, vừa thấy
Chu Võ Vương, liền sụp lạy. Các
chư hầu thấy vậy nổi giận quát, cha ngươi là hôn quân vô đạo, tội ác dẫy
đầy, cũng nên chém Võ Cảnh đi đền tội
với thiên hạ, lại trừ hậu họa mai sau. Có lẽ số Trời chưa cho giết, nên khiến cho Võ Vương can, Võ Vương nói:
Trụ
Vương vô đạo hung tàn bạo ác, là do Đắc Kỷ, cùng với nịnh thần, bày mưu hiến
kế, Võ Cảnh chỉ là một đứa bé, làm gì có tội, hơn nữa Vũ Canh đã chết, thói
thường tội của cha không luận đến con, chúng ta phong cho Võ Cảnh một vùng đất,
hầu nối kiếp lửa hương Nhà Thương, như vậy chúng ta đã đền ơn Nhà Thương vậy, các
chư hầu không dám cải, nhưng trong bụng thời không ưng lắm, vì nhổ cỏ phải nhổ
cho tận gốc, bằng không hậu họa sẽ không sao lường được .
Một
hôm Tử Nha nói với Võ Vương rằng, bệ hạ đã không giết Võ Cảnh, thời cũng nên ra
ơn cho Võ Cảnh, lo phần hương khói, nhưng phải dùng người giám sát, mà kèm kẹp,
nếu phát hiện mưu đồ bất chính thời giết đi để trừ hậu họa. Võ Vương y lời giao
Võ Cảnh cho hai vị Ngự Đệ, trông coi giám sát.
*- Võ Cảnh
càng lớn càng khôn ngoan, ý tứ kín đáo vô cùng, khó ai đoán được ý đồ của Cảnh,
sự nhẩn nhịn, nhẩn nhục, nhẩn nại của Võ Cảnh phải nói là hết sức thâm sâu.
Khi Võ Vương băng hà qua đời, Võ Cảnh
khóc lóc thê thảm ra vẽ thương yêu lắm, Võ Cảnh biết chỉ cần lộ một cử chỉ bất
mãn là coi như là toi mạng nhất là khi tuổi đã trưởng thành. Một hôm Võ Cảnh
nằm ngủ thời thấy hồn Đắc Kỷ hiện về kêu Võ Cảnh.
Cảnh con đây là cơ hội tốt nhất cho con
thoát khỏi sự kèm kẹp, của Nhà Chu, để lập lên nghiệp lớn. Con hảy xin với Thành Vương, cho con đến một mảnh đất
xa xôi, tận miền Tây Nam gần đất Hung Nô, Phiên Ngung, đã di cư từ Tây Bắc đến ở, rất thân quen với quân Hồ,
quân Hung Nô, với quân Hồ vô cùng hùng mạnh, lại ở nơi hẻo lánh khó mà tận diệt
được, Nhà Chu tuy mạnh nhưng cũng không diệt được họ đâu. Đắc Kỷ dạy bảo xong
liền biến mất, Võ Cảnh gọi mẹ một tiếng thật lớn, giật mình tỉnh dậy. Nghe
tiếng gọi mẹ thật lớn của Võ Cảnh có người chạy vào hỏi, công tử gọi ai thế, Võ
Cảnh vô cùng khiếp sợ, nói, tôi thấy chiêm bao sợ quá la lên, người nầy chính
là người hầu được cài theo dõi ngày đêm, mỗi hành động cử chỉ, dù chỉ là cử chỉ
nhỏ nhặt cũng phải báo cáo lên bề trên, người hầu nói công tử thấy mẹ phải
không, nghe người hầu hỏi thế Võ Cảnh sợ đến tái cả mặt. Không sao đâu đó chỉ
là giất mơ.
Võ
Cảnh nghe người hầu nói thế mới yên tâm .
Hôm
sau Võ Cảnh vào chầu Thành Vương, cuối
đầu lạy tạ tâu rằng, muôn tâu bệ hạ Võ Cảnh trộm nghĩ thân đầy tội lỗi, đáng lý
đã chết từ lâu, nhưng nhờ Đức cao của Bệ Hạ nên Cảnh dân mới được sống sót, Cảnh
dân nhớ mãi muôn đời, không lúc nào dám quên, ơn trên chưa báo đáp thời dám mong
được gì, hạ dân cũng có chút bẩm báo nhưng không dám, nếu bệ hạ cho phép thời
hạ dân mới dám dâng tấu sớ. Thành Vương hỏi ngươi muốn tấu gì thời đưa đây cho
trẩm cùng các quan xem.
Võ cảnh làm
như ra vẻ sợ hãi, lấy phong thư ra dâng lên cho Thành Vương xem. Thành Vương xem xong rồi đưa cho các quan xem, nội
dung tấu thư như sau, Võ Cảnh sống đến ngày nay đều nhờ ơn Bệ Hạ, lại được ăn
no mặc ấm, ơn Đức của Bệ Hạ không sao đền đáp được, nay Cảnh hạ dân cũng đã lớn,
muốn cầu xin Bệ Hạ một việc, nếu bệ hạ cho phép thời hạ dân mới dám tâu, các
quan xem xong liền tâu rằng, muôn tâu bệ hạ đã ra ơn thời ra ơn cho trót xem Võ
Cảnh có ý nguyện gì. Thành Vương nói:
Trẩm cho phép ngươi cứ nói, nghe nói đến
tiếng ngươi Võ Cảnh hơi sợ, lấy hết lòng can đảm tâu rằng muôn tâu Bệ Hạ, Cảnh
dân nguyện xin Bệ Hạ phong cho một ít đất tận nơi biên giới tây nam, gáp ranh
với quân Hung Nô, quân Hồ, ở nơi ấy hạ dân, chí thú làm ăn thờ phụng Tổ Tiên,
Nghe Võ Cảnh tâu ai nấy lấy
làm kinh ngạc, đây không phải là xin mà là đày đến nơi đất chết, rừng thiên
nước độc, không ai có thể dám tới gần
nơi đó nói gì là đến để ở, các quan nghĩ Võ Cảnh đã quá sợ chết trở thành điên
loạn, nên mới có lời thỉnh cầu điên dại như thế, riêng chỉ có, Chu Công Đán là
không nghĩ như vậy, Chu Công Đán nghĩ dù cho Võ Cảnh hàng phục được quân Hung
Nô, quân Hồ, cũng không làm gì được Nhà Chu.
Thành Vương từ lâu muốn diệt đi mối hiểm họa nầy.
Nhưng chưa có cơ hội, đây
chính là cơ hội để tiêu diệt mầm họa về sau. Bằng nói trẩm chấp nhận cho lời thỉnh
của Khanh, bằng phê chiếu chỉ phong cho đất Man Vu, rừng thiên nước độc, muốn bao nhiêu cũng được, bằng cho người cấp lương thực vài xe, vàng bạc hơn trăm
lượng, cho vài chục tên binh lính hộ tống đến biên giới Hung Nô,
hoang vu, Võ Cảnh mừng quá lạy
tạ Thành Vương, rồi qua hôm sau là lên đường, tiến về Tây Nam đến Đất Hồ, đi
được hơn mười ngày thời lấy vàng bạc, bán xe
mua ngựa, chở lương thực hàng hóa tiến lần về rừng núi, vược qua nhiều
sông suối dốc đèo, những quân lính đi theo lần lượt bỏ trốn, không còn lại mấy
người, càng đi thời rừng núi trùng điệp, chim kêu vượn hú, đêm về thời hơi lạnh
thấu xương, đi đến đây có trốn cũng không biết đường về, ai cũng nghĩ đi theo
Võ Cảnh là đi vào đất chết.
Đoàn
ngựa chở hàng hóa đang đi, thời bổng nghe thấy tiếng ngựa hí vang trời, những
người theo hộ tống Võ Cảnh sợ hết hồn hết vía. Đất Man Vu là đất chết chóc nổi
tiếng, bọn cướp rừng nổi tiếng là ăn thịt cả người sống, không mấy ai đến đây
mà toàn mạng trở về.
Võ Cảnh nhìn mấy mươi người người nào người nấy
hung tàn bạo ác vô cùng, đao, kiếm sáng ngời, lao tới bao vây quát, các ngươi là
ai mà dám đi qua khu vực nầy. Mau để lại ngựa hàng hóa hết lại cho ta bằng
không các ngươi không còn một mạng, các binh lính sợ quá rung lập cập, Võ Cảnh
bình tỉnh hỏi nơi đây là nơi nào, tên ăn cướp quát, chết đến nơi mà còn hỏi, tên
mặt hổ nói, thôi nói cho nó biết đi, để chúng xuống âm phủ biết nơi đây là đâu,
tên mặt trắng quát, đây là đất Man Du hay còn gọi là đất hoang vu, đất vô chủ, không thuộc quyền của ai cả, chúng
ta là kỵ binh còn sống sót của nhà Ân, trở thành Chúa tể sơn lâm, Chúa tể của
núi rừng. Hãy báo danh rồi về chầu âm phủ,
Võ Cảnh nghe bọn ăn cướp nói
đây là đất Man Du thời mừng vô cùng, tới rồi tới rồi cuối cùng ta cũng tới được
nơi đây, trời đã giúp ta, trời đã giúp ta, võ cảnh cười lên sản khoái. Tên thủ
lĩnh mặt hổ nghe võ cảnh nói không hiểu gì cả, liền quát lớn, các ngươi là ai
mau nói ra, tên béo mập nói, giết chúng đi cho rồi cần gì hỏi lôi thôi, thế là
chúng ra tay, Lúc ấy bổng một trận cuồng phong nổi lên, tức thời xuất hiện hai
vị Đạo Sĩ, hai vị Đạo Sĩ quát, các ngươi sao không ra mắt lễ lạy Chúa Công, mấy
mươi tên ăn cướp quát, hai đạo sĩ kia ngươi nói ai là Chúa Công của ta.
Hai
Đạo Sĩ chỉ Võ Cảnh nói, người nầy chính là Chúa Công của các ngươi, mấy tên ăn
cướp quát, hai Đạo Sĩ kia hai ngươi từ đâu tới, có người nói chúng là đồng bọn
với nhau, chúng ta đông sợ gì hai lão Đạo Sĩ, xông lên giết hết tất cả cho ta.
Hai
Đạo Sĩ quát đồ hổn láo không dạy cho các ngươi bài học thời các ngươi không
biết trời cao đất rộng là gì, tên mặt hổ quát anh em đâu mau giết hai Đạo Sĩ đó
cho ta, tức thời cả bọn ăn cướp lao nhanh vào chém giết hai Đạo Sĩ
hai Đạo Sĩ quát.
Quả
thật các ngươi đáng tội chết, tức thời hóa phép làm cho bọn cướp xây xẩm mặt
mày, ngã lăn xuống ngựa, liền ra lịnh cho những tên lính theo Võ Cảnh trói hết
chúng lại, chờ lịnh xét xử, bọn ăn cướp vô cùng kinh hãi không ngờ hai đạo sĩ thần
thông quản đại như vậy.
Hai
Đạo Sĩ tới trước mặc Võ Cảnh quỳ xuống tâu rằng: Chúng Thần đến cứu giá trể,
xin Chúa Công tha cho tội chết, chúng Thần tu ở Hồ Động, Nương Nương về báo cho
chúng thần biết là Chúa Công sẽ đến nơi đây, quả là đúng như vậy. Xin Chúa Công
hãy xử những tên phản nghịch nầy, những tên nầy từng là quân lính của Nhà Ân,
bị quân Chu tri nả nên ẩn sâu vào rừng núi trốn tránh, không chỉ bấy nhiêu mà
cả hàng mấy nghìn tên, trong đó có những vị tướng lĩnh, không chịu ra đầu hàng,
ẩn trong rừng sâu làm cướp, nghe nói Thành
Vương đã phong đất cho Chúa Công, đất
Man Vu, hay còn gọi là đất hoang vu, hàng mấy trăm dặm chính là nơi đây. Và
nơi đây sẽ trở thành đất Ân của Chúa Công, chúng Thần nguyện theo Chúa Công
khai dựng cơ nghiệp, xin Chúa Công thu nhận cho. Võ Cảnh thấy sự việc xãy ra như
trong giất mơ, Võ Cảnh liền đở hai Đạo Sĩ dậy, hai Đạo Sĩ thi lễ nói Chúng Thần
cảm ơn Chúa Công.
Hai Đạo Sĩ quay sang những tên ăn cướp,
các ngươi nghe đây, người trước mặt các ngươi chính là Võ Cảnh Chúa Công, con
của Thiên Tử, Ân Thọ Trụ Vương và Nương Nương Đắc Kỷ, các tên ăn cướp nghe hai
Đạo Sĩ nói thế thời kinh hãi, bò tới cuối đầu lạy tạ, chúng Thần xin ra mắt
Chúa Công. Cũng từ đây Võ Cảnh, chiêu
mộ những binh lính không chịu đầu hàng Nhà Chu, ra phò Võ Cảnh lập lên nước Man Du hùng mạnh, nhờ kết giao với quân
Hồ và quân Hung Nô, làm cho Nhà Chu cũng phải e dè đề phòng.
Võ Cảnh nhanh chóng xây dựng đất nước hùng
mạnh thu nạp những người có tội đến ở, trở hành đội quân hung bạo vô cùng, các
nước nhỏ ở gần đấy đều đến quy phục, Võ Cảnh
nhiều vợ nên cũng nhiều con, làm thông gia với quân Hồ và quân Hung Nô, nên
thế lực càng hùng mạnh, với chính sách ngoại giao khôn khéo, với Nhà Chu địa
thế khó đánh, Võ Cảnh xưng Vương, Cảnh Ân
Vương, Nhà Chu muốn diệt cũng diệt không được. Có người thở dài nói rằng, Nhà
Chu thả cọp về rừng, nhổ cỏ chừa gốc, nuôi mầm họa về sau.
Thành Vương qua đời Chu Mục Vương lên thay, Tạo Thụ được Mục Vương Nhà Chu yêu mến,
ông cha của Tạo Thụ là Ác Lai, Ác Lai thờ Vua Trụ, nên Võ Cảnh được sự giúp đở
của Tạo Thụ rất nhiều, vì thế Cảnh Ân Vương càng thêm hùng mạnh. Cảnh Ân Vương nhiều con nên cũng sanh ra nhiều Cháu, toàn là
nhũng anh hùng hảo hán, học được nhiều pháp thuật cao siêu, lại có Yêu Hồ giúp
sức nên khó ai chống lại được. Ở đời người ta thường nói, con nhà tông không
giống lông cũng giống cánh, mộng bành trướng, tham lam không dứt, đến thời Cháu
Chắt của Võ Cảnh, Cảnh Ân Vương theo
chí nguyện của tổ tiên là Ân Trụ Vương,
giặc Ân xâm lược Nước Văn Lang lần nữa, 961 đến 930 trước công nguyên.
* * *
PHẦN
3
Đây nói về Phương Bắc, không giống như
Phương Nam, chỉ có một nước Văn Lang thống
nhất rộng lớn, chỉ cần một Quận, một Huyện, cũng bằng một nước nhỏ ở Phương
Bắc, một Châu ở Văn Lang, bằng một nước lớn ở Phương Bắc, vì thế ở Phương Bắc có đến hàng nghìn Vua, luôn tranh bá với nhau, cho
thấy Phương Bắc vào thời đó chưa đi vào thống nhất trật tự như Phương Nam Văn Lang,
Phương Nam Văn Lang chỉ có một vì Vua đó là VUA HÙNG, được nối truyền nhau đời
nầy sang đời khác 41 đời Vua Hùng, kéo dài độc lập 2701 năm. chia đất nước ra làm nhiều Bộ, một Bộ chia
ra làm nhiều Châu, một Châu chia ra làm nhiều Quận, Huyện, một Huyện chia ra
làm nhiều Xã, một xã chia ra làm nhiều Thôn, chỉ cần một Xã Văn Lang, cũng bằng
một nước nhỏ ở Phương Bắc, gọi là
các trấn chư hầu của Nhà Chu, cũng như các trấn Chư Hầu thời Nhà Ân, Nhà
Thương. Như nước
Lỗ, nước Tề, nước Yên, nước Ngụy, nước Quản,
nước Thái, nước Tào, nước Thành, nước Hoắc, nước Vệ, nước Đằng, nước Tấn, nước
Ngô, nước Ngu, nước Quách, nước Sở, nước Hứa, nước Tấn, nước Cử, nước Kỷ, nước Trâu,
nước Tiết, nước Tống, nước Khởi, nước Kế, nước Cao Ly.
*- Các
nước trấn Chư Hầu lớn, nhỏ nầy, ngang
tầm với các Châu, Quận, Huyện Văn Lang mà thôi, không có nước
nào bằng Bộ Văn Lang, có nước nhỏ hơn Quận Huyện Văn Lang.
Ở
vào thời ấy, các nước lớn ở Phương Bắc, không có nước nào bằng Bộ Giao Chỉ, Bộ Việt Thường.
Các
nước lớn ở Phương Bắc thường thôn tính các nước nhỏ làm trấn Chư Hầu cho mình,
có thể nói là thường thôn tính nhau,
diệt lẩn nhau, mất chỗ nầy mọc ra chỗ khác, mất chỗ nọ mọc ra chỗ kia, lúc thì
đất Ngô, lúc thì đất Sở, lúc thì đất Tấn lúc thì đất Vệ, lúc thì đất Tào lúc
thì đất Ngụy, một chỗ đất mà có nhiều
tên Vua chồng lấp lên nhau, theo sự chuyển biến của lịch sử, thời Nhà Thương,
Nhà Ân, Nhà Chu cũng vậy, không có sự thống nhất như Phương Nam Văn Lang, không
có Vua nầy thôn tính Vua kia, Chúa kia thôn tính Vua nọ, có nghĩa là không có
nhiều Vua, chỉ có một vì Vua duy nhất đó là Vua Hùng, hết đời nầy nối sang đời khác, tuy biết rằng đất đai vô
cùng rộng lớn, nhưng tất cả đi vào bộ máy thống nhất, từ trên xuống dưới, sống
trong một nền Hiến Pháp, Quốc Đạo Văn
Minh. Không như ở Phương Bắc hàng nghìn vị Vua, thôn tính nhau, chiếm đoạt
nhau, tàn sát lẩn nhau, nay là đất của Sở, mai là đất của Ngô, không cố định,
diệt chỗ nầy có điều kiện thời sanh lại chỗ khác, vì thế phương Bắc chiến tranh
cướp đoạt đất đai thôn tính nhau truyền miên.
Đúng như câu đất đai không của riêng ai, người
nào mạnh thời người đó được, được xưng Vua thua cho là Giặc, xem đi xét lại
Giặc với Vua chẳng khác gì nhau.
*-
Không như Phương Nam chỉ duy nhất một Nước Văn Lang rộng lớn, một đất
nước cố định mãi mãi, trước sau cũng chỉ là nước Văn Lang, chỉ chuyển đổi niên đại mà thôi. Niên Đại Hồng Hoang, Niên Đại Hồng Bàng,
Niên Đại Hồng Đế, Niên Đại Viêm Đế Thần Nông, Niên Đại Kinh Dương Vương, Niên
Đại Hùng Vương, chuyển sang thời Âu Lạc.
*- Nếu
đem so sánh, Bắc - Nam, thời nước Văn Lang là một đất nước duy nhất cố định,
luôn luôn thống nhất không có cảnh chia đất nước ra làm nhiều nước, mà chỉ phân
chia đất nước ra làm nhiều Bộ, nhiều Châu, nhiều Quận, nhiều Huyện, thống nhất trong
một Nhà Nước Văn Lang, chỉ có một Vua, không có cảnh nhiều Vua tàn sát lẩn nhau như Phương Bắc. Vì
thế nước Văn Lang hể mất là mất luôn, không bao giờ mọc ra chỗ khác được, như ở
Phương Bắc, như nước Dịch, nước Cao mất
đất chỗ nầy, mọc ra chỗ đất khác, Vệ mất đất nầy Vệ mọc ra nơi đất khác, các
nước khác cũng thế.
*-
Trong lịch sử kéo dài hàng nghìn nghìn năm, Phương Nam nước Văn Lang nằm trên đất Văn Lang, mãi
mãi như thế hể mất là mất, hể còn là
còn, không thể mất ở đất nầy mọc ra nơi đất khác được.
Có thể nói Phương Bắc ở vào thời đó chưa
có nền Văn Hiến thống nhất, luôn
luôn hổn độn chia nhỏ nhiều nước ăn nuốt lẩn nhau, tiêu diệt nhau, xâm lấn
nhau, hết nghìn năm nầy đến nghìn năm khác, lúc nào cũng nghe chiến tranh nước
Lỗ, nước Tề, nước Yên, nước Ngụy, nước Tống, nước Tấn, nước Trần, thôn tính lẫn
nhau, diệt rồi sanh, sanh rồi diệt, lớn mạnh ở đất nầy, lại bị thu nhỏ lại ở
đất khác, bởi tham vọng chiếm đoạt, triệt hạ, giành giật thôn tính lẩn nhau.
*-
Không như nước Văn Lang, chia ra làm nhiều Bộ, mỗi Bộ chia ra làm nhiều
Châu, mỗi Châu chia ra làm nhiều Quận Huyện, tuy rộng lớn vô cùng, nhưng không
có chiến tranh tranh giành thuộc địa giữa bộ nầy, với bộ khác, các châu nầy với
châu khác, nên không có sự xưng Vua, xưng Chúa nhiều như đất Phương Bắc, thống
nhất về một mối một Nhà Nước Văn Lang, thống nhất chỉ có một Quốc
Tổ Vua Hùng.
*- và
chỉ có một Niên Hiệu Vua Hùng trên Đất Nước Văn Lang, kéo dài sự độc lập 2701
năm kể cả thời dựng nước, thời dựng nước là 79 năm, thời Quốc Tổ, sau thời Quốc
Tổ là thời giữ nước, 2622 năm, và cho đến thời hạ Hùng Vương đời thứ 6 Hùng Huy Vương trong 18 đời hạ Hùng Vương
961đến 893 trước công nguyên, dân bắc Văn Lang bị đồng hóa bởi nền Văn Hóa
Phương Bắc, bằng con đường ngoại giao buôn bán hội nhập, cọng với sự di cư bất
hợp pháp dân các nước Phương Băc lánh nạn chiến tranh qua bắc Văn Lang, hàng
vạn, vạn người trong vòng mấy mươi năm, những Bộ, những Châu, những Quận, những
Huyện, dân chúng tăng lên chóng mặt, dân chúng Phương Bắc di cư qua Bắc Văn Lang
mang theo cả nền Văn Hóa Phương Bắc, làm cho dân chúng Bắc Văn Lang bị mê hoặc,
từ đó Bắc Văn Lang dần dần đi vào đại
loạn, phần đông từ Vương Quan cho đến dân Chúng đều mê hoặc bởi thứ văn hóa bói
toán, nhập đồng, nhập bóng, xin xăm, bói quẻ, tiên tri độc hại nầy, không dè
chừng Văn Hóa Phương Bắc, vì nghĩ Văn Hóa Phương Bắc không có gì độc hại, nên
không kiểm soát về văn hóa, dẩn đến tai hại biến Bắc Văn Lang đồng hóa Văn Hóa
phương Bắc, ngã lần về phương Bắc rồi trở thành lệ thuộc dần phương Bắc, cũng
từ đó Bắc Văn Lang nhiều nội loạn nổi lên đòi tự trị, làm biến động tình hình
Bắc Văn Lang.
*- Hàng
vạn vạn người dân các nước Phương Bắc di cư sang ở Bắc Văn Lang, họ mang theo
nền văn hóa Phương Bắc, nền văn hóa bói toán, xin xăm, bói quẻ, nhập đồng, nhập
bóng cầu cạnh thần linh, những nhân vật được tôn thờ từ phương Bắc du nhập vào
Bắc Văn Lang, làm mê hoặc dân Văn Lang. Vì lúc ấy dân tộc Văn Lang, đã lạc Nguồn
lạc Cội, nên ngã theo tôn thờ thần linh ở phương Bắc, và dần dần dân tộc Bắc
Văn Lang đi vào mất gốc, không những mất gốc về Văn Hóa Cội Nguồn, mà còn mất
luôn cái gốc Truyền Thống dựng nước giữ nước Văn Lang.
*- Vì
hấp thụ Văn Hóa phương Bắc, nên Bắc Văn Lang nhiều anh hùng nổi lên, đòi tự trị
lập nước riêng, xưng Vua nầy Vua nọ như phương Bắc.
Sự nổi lên đòi tự trị ấy, được hậu thuẩn từ
các nước lân cận trấn chư hầu Nhà Chu, Bắc Văn Lang trở thành bãi chiến trường
cho sư bùng nổ lên nhiều phe phái hình thành lên nhiều Vua, Chúa tự trị riêng
mỗi vùng, rồi thôn tính nhau theo kiểu phương Bắc.
*- Lúc
ấy nhà nước Văn Lang cũng đã bắc đầu suy yếu, là do mất đi những điều cơ bản
của nền Văn Hiến. Văn Hóa Cội Nguồn truyền thống dân tộc, dẩn đến độc quyền độc
tài, độc trị, sa vào con đường lìa xa dần dân chúng, làm mất lòng tin dân
chúng. Dân chúng lại nghe theo sự xúi dục của các thế tham vọng bành trướng
phương Bắc, nhất là những nước lân cận Bắc Văn Lang.
Dẫn
đến nội loạn chia bè rẽ phái ở Bắc Văn Lang nổi lên đòi tự trị từng vùng xưng
Vua xưng Chúa, có sự hậu thuẩn từ phương Bắc, nên các Vua Hùng từ đời 11, 12,
13, ra sức dẹp nội loạn Bắc Văn Lang nhưng không dẹp nổi, vì người dân đã ngã
theo Văn Hóa phương Bắc, Văn Hóa của sự xưng hùng xưng bá, Văn Hóa chia bè rẻ
phái, hình thành lên quá nhiều khu tự trị hùng mạnh, những ông Vua Việt nổi
lên, như Vua Điền Việt, Vua Mân Việt, Vua
Dương Việt, Vua Đông Việt, Vua Nam Việt, Vua Lạc Việt, và nhiều vị Vua Việt
khác nữa.
Sau nầy bị Doãn Thường Việt nổi lên diệt sạch
chiếm lĩnh Bắc Văn Lang, xung hùng xưng bá.
*- Tổ Tiên
của Doãn Thường Việt, là dòng dõi
Vua Vũ, con thứ hai của Vua Thiếu Khang,
đời Nhà Hạ, qua nhiều triều đại thôn tính lật đổ nhau, con cháu Vua Vũ lánh nạn
di cư đến đất Cối Kê, cắt tóc xăm mình như dân Văn Lang, trải qua hai mươi đời trở
thành dân Văn Lang, đến đời Doãn Thường thời
nổi lên như một vị anh hùng, dân chúng theo về rất đông, tiêu diệt nhiều thế
lực tự trị, như thế lực Việt Hoa, thế
lực Kinh Việt, thế lực Mân Việt, thế lực Âu Việt, thế lực Lạc Việt, thế
lực Điền Việt, thế lực Kiều Việt, nói chung là nhiều thế lực
Bách Việt nổi lên tự trị, bị Doãn Thường
thôn tính, xưng là Vua Việt. Doãn Thường chết con là Câu Tiển được lập làm Việt Vương,
Việt Vương Câu Tiển Thế Gia.
*- Cùng
vào thời kỳ ấy Bắc Văn Lang đã nổi lên nhiều thế lực từ những nước láng giềng
xâm lược qua, như Ngô, Tề, Sở, vân vân...
*- Bắc Văn
Lang ở vào thời kỳ nầy không khác gì phương Bắc các thế lực trự trị, luôn luôn
thôn tính lẩn nhau, Vua Điền Việt mất chỗ nầy thời mọc lên chỗ đất khác, Vua
Mân Việt mất chỗ đất nầy thời mọc lên chỗ đất khác, Vua Dương Việt cũng vậy mất
chỗ đất này mọc lên chỗ đất khác, cứ như thế mà tranh bá tranh hùng, thôn tính
lẫn nhau.
Theo khẩu hiệu Phương Bắc ( thiện hạ đất
đai không của riêng ai, người nào mạnh người đó được).
*- Bắc Văn Lang trở thành nồi da nấu thịt, những
cuộc chiến xâu xé lẫn nhau, của nhiều thế lực tự trị xưng Vua, xưng Chúa, thôn tính lẫn nhau hủy diệt lẫn
nhau, mạnh được yếu thua, đất đai thuộc về người khác, cứ thế mà chiếm qua
chiếm lại. Nay thuộc đất Dương, mai thuộc đất Mân, mốt thuộc đất Lạc, vị trí
đất đai, theo nhân vật con người, cùng một chỗ đất, ba hồi là đất Dương, ba hồi
là đất Mân, ba hồi là đất Lạc, không khác gì phương Bắc.
Dân bắc Văn Lang đã bị đồng hóa Văn Hóa
phương Bắc, chính là một trong những
nguyên do dẫn đến mất Bắc Văn Lang, đồng hóa với phương Bắc.
*- Khi Bắc Văn Lang đã bị đồng hóa Văn Hóa
phương Bắc tạo ra cảnh nồi da nấu thịt,
dân tộc Văn Lang tàn sát dân tộc Văn Lang, những khu tự trị nổi lên, đất Văn Lang
mất lần mất lần, chiến tranh càng lớn đất Văn Lang càng mất về tay Phương Bắc,
nhất là những cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt, đây chính là cơ hội các thế lực
Phương Bắc chiếm lần đất đai Văn Lang, bằng con đường đưa quân sang giúp cho
những thế lực tự trị yếu hơn, nhân cơ hội đó chiếm luôn đất đai .
*- Hoặc buộc những thế lực chiến thắng cắt đất
giao cho họ, thế là Bắc Văn Lang lần lần mất đất về tay phương Bắc. Cứ mỗi lần
chiến tranh nội bộ nồi da nấu thịt xảy ra, là mỗi lần mất đất, về tay phương
Bắc, và cứ thế phương Bắc
nuốt lần đất phương Nam, hết
nghìn năm nầy sang nghìn năm khác, và nuốt mãi cho đến tận ngày nay.
* * *
PHẦN 4
Nói về thời hạ Hùng Vương, đời thứ 3 Hùng Tiên Lang, đánh bại quân xâm lược
Nhà Ân, cắt đứt quan hệ với phương Bắc, cho đến khi Nhà Ân bị hủy diệt, Nhà Chu
lên thay thế, Võ Vương chết, Thành Vương lên thay, thời nước Văn Lang nối lại quan hệ ngoại giao
với phương Bắc
Vào năm ( 1063 trước công nguyên ) đây không phải là lần đầu
quan hệ ngoại giao sang thăm Phương Bắc.
*- Khi ấy nước Văn Lang đời thứ tư hạ Hùng Vương,
Hùng Diệp Vương ( Bảo Lang ) trị vì thiên hạ, Hùng Diệp Vương chỉ thị cho Lạc Vương, Bộ Việt Thường, đại diện cho
nước Văn Lang, sang thăm Phương Bắc, Thành Vương Nhà Chu, thị hiến chim Trĩ Trắng,
nối lại quan hệ ngoại giao, hai phương Nam- Bắc, láng giềng.
*- Ở vào thời đó Bộ Việt Thường ở Nam, Bộ Giao Chỉ ở Bắc
hai bộ lớn nhất nước Văn Lang thời đó. Lạc
Vương, đứng đầu ( bộ Việt Thường ) được chọn đại diện cho nước Văn Lang nối
lại quan hệ ban giao Nam- Bắc .
*- Nói về Chu
Thành Vương, hỏi các quan nghe
nói có sứ giả Văn Lang phương Nam
đến thăm phương Bắc chúng ta việc đó có thiệt không? Triệu Công Thích tâu, bẩm Chúa công Bệ Hạ, quả có sứ giả Văn Lang
đã đến triều ca đang ở ngoài thành, nhưng chỉ là Lạc Vương, Bộ Việt Thường, đem phẩm vật chim trĩ trắng dâng lên Bệ
Hạ quan hệ ban giao Nam - Bắc, xin bệ hạ định đoạt, Thành Vương nói còn ai có ý
kiến gì nữa không, Chu Công Đán nói.
Tâu Chúa công Bệ Hạ, Văn Lang là một đất nước lớn, không thua kém gì Phương Bắc
chúng ta, nước Văn Lang có hai bộ lớn nhất, đó là Bộ Việt Thường, Bộ Giao Chỉ,
là hai bộ lớn nhất của nước
Văn Lang, hơn nữa Bộ Việt Thường là nơi Vua Hùng đang ở, Lạc Vương, đứng đầu Bộ Việt Thường, quan hệ ban giao thời không khác gì
Vua Hùng, xin Bệ Hạ cân nhắc.
Thành Vương nói, nếu Vua Hùng sang sứ ban giao
thời Trẩm đích thân trải thảm tiếp đón, còn Lạc Vương thời giao cho Chu
Công tiếp đón nghị luận ban giao vậy.
*- Đây nói về Lạc Vương, cùng các Quan đang đợi người đến tiếp dẫn vào triều ca
ra mắt Thành Vương.
Đang
lúc đang đợi bổng thấy quân lính chỉnh tề
cờ xe kiệu rước vô cùng trang nghiêm long trọng, Lạc Vương là người rất thông minh thấy cảnh đón rước thời biết ngay,
là vừa tôn trọng vừa thị huy.
Lạc Vương được tiếp đón vào một ngôi dinh thự thật lớn, tiếp đãi tử tế, qua lời
chào hỏi giới thiệu Lạc Vương biết người tiếp đón mình chính là Chu Công, dưới Thành Vương mà thôi, nên lấy làm hài lòng, và Chu Công cũng hiểu rõ
điều đó, hai bên nói qua nói lại rất thâm tình,
*- Đến lúc nầy Chu Công mới nói.
Chính lệnh không ban đến, thời người quân tử không coi nhau, như là bề
tôi của mình, thẳng thắng công bằng mà nghị sự, ở được mươi hôm Chu Công cho người làm xe mới, ngựa
mới, cho người đưa tiển sứ giả về nước.
*- Phương Bắc bao giờ cũng mang lòng dạ đen tối,
trăm phương nghìn kế chiếm cho được đất phương Nam, nhất là những nước lận với
Văn Lang.
* *
*
PHẦN 5.
Được
sự ban giao giữa Văn Lang và Tây Chu cho phép giao thương Nam Bắc thông thương
quan hệ láng giềng đây là cơ hội mộng bành trướng phương Bắc, mà không có một
chút trở ngại nào. Những nước gần Bắc Văn Lang, như nước Tề, nước Ngô, nước Sở.
Đây nói về Tề Thái Công:
Thái Công Vọng tức là Lữ
Thượng người Đông Hải, Tổ Tiên ông ta am hiểu về thuật phong thủy, làm tứ nhạc
giúp Vua Vũ rất có công, đời Ngu và đời Hạ, được phong ở đất Lữ bao gồm cả đất Thân, họ Khương.
Đến
đời Thương thời Tề Thái Công được sanh ra, ông ta vốn họ Khương, nhưng lấy họ
theo tên đất, cho nên gọi là Lữ Thượng, Lữ Thượng thường bị nghèo khổ, tuổi đã
già nhờ câu cá mà gặp Tây Bá nhà Chu, ở vào thời kỳ nầy thuật bói toán, thuật
xin xăm đón quẻ phải nói là vô cùng hưng thịnh, cầu tài cầu lợi, cầu quỉ, cầu
ma, cầu Thần cầu Thánh.
( Khi đó phương Nam Văn Lang
không có thứ văn hóa nầy, mà chỉ có một
nền văn hóa duy nhất là văn hóa Cội Nguồn. Nhưng đã bị thất truyền, vì do sự
thất truyền nên người dân Văn Lang mất phương hướng, nên bị văn hóa phương Bắc
bói toán, thuật số, xin xăm, bói quẻ, cầu thần, cầu quỉ, cầu ma, truyền sang
làm cho mê hoặc, nhất là Bắc Văn Lang).
Lữ Thượng nghèo khổ sống nhờ câu cá. Một hôm Tây Bá sắp đi săn, sai bói
quẻ, quẻ ứng cho biết.
“ Cái bắt được không phải là
Rồng, không phải là ly, không phải là hổ, không phải là gấu, vật bắt được là
con người sẽ giúp đở cho mộng Bá Vương làm nên nghiệp lớn’’
Tây Bá Chu đi săn quả nhiên gặp được Thái
Công, ở phía Bắc sông Vị. Thái Công là người hiểu biết rộng, đã có lần thờ Vua
Trụ, nhưng Vua Trụ vô đạo, không phải là bật Thiên Tử chánh chân, nên Thái Công
bỏ đi. Đi du thuyết các nước chư hầu, không được ai nghe, cuối cùng trở về phía
Tây về với Tây Bá nhà Chu, làm thầy Văn Vương, Võ Vương.
*- Sau khi Văn Vương chết, Võ Vương lên ngôi năm
thứ chín, Võ Vương đem quân đi về phía Đông để xem các nước chư hầu có đến họp
không, Thái Công tay trái cầm búa Hoàng Việt, tay phải cầm cờ Bạch Mao tuyên
thệ, “ hỡi những con Tê Giác xanh! các ngươi hãy tập họp lại, ta trao thuyền và
mái chèo cho các ngươi, kẻ nào đến sau thì bị chém đầu, lời tuyên thệ ấy đến
tai các nước”. Khi đến bến Mạnh Tân, các nước chư hầu đến họp tám trăm nước.
( Để hiểu rõ đoạn Kinh trên
chúng ta có thể hiểu các nước ở phương Bắc, chỉ bằng những Châu, Huyện, Quận, ở
nước Văn Lang mà thôi ).Chỉ nội ở phía
Đông nhà Ân mà có đến 800 nước, thời chúng ta cũng hiểu rõ những nước ở
phương Bắc phải nói là như Nấm, Vua nhiều như Giá, tự xưng tự trị khắp nơi, không
có sự đoàn kết thống nhất. Đó chính là văn hóa tự trị, nói cho rõ hơn nữa đó
chính là văn hóa độc quyền, độc tài, độc trị, văn hóa cạnh tranh hủy diệt nhau,
không phải văn hóa cạnh tranh của sự phát triển, văn hóa độc quyền, độc tài,
độc trị, là văn hóa không có sự công bằng, bình đẳng, mà chỉ có mạnh được yếu
thưa.
Tất cả các nước phương Bắc thời đó, mỗi
nước đều có mỗi thể chế giáo điều riêng, không dựa trên một nguyên tắc nào cả, ai
mưu mô xão quyệt hơn thời nước đó mạnh.
Chia bè, chia nhốm, tự xưng mình là Vua, biết
rằng mình chỉ làm chủ một khu đất nhỏ, vài trăm nóc nhà, vài nghìn nóc nhà. ( So
ra chỉ bằng Châu, Phủ, Quận, Huyện, nước Văn Lang mà thôi.)
*- Sau khi Võ Vương bình định xong nhà Ân, cơ
nghiệp nhà Thương không còn, Võ Vương phong cho Lữ Thượng, (tên tộc là Vọng)
chức Thái Công làm chủ đất Tề, Thái Công là người giõi về chính sự, nên dân
chúng theo về rất đông, làm cho nước Tề càng thêm lớn mạnh.
*-
Đến thời Thành Vương, nhà Chu còn nhỏ, Quản
Thúc, Thái Thúc, làm loạn,
những người di ở đất hoài phản lại nhà Chu, nhà Chu sai Thiệu Khang Công, ra lệnh cho Thái Công. Từ phía Đông cho đến biển,
phía Tây cho đến sông Hoàng Hà, phía Nam cho đến Mục Lăng, phía Bắc cho đến Vô
Lệ, năm hầu chín bá đều được phép chinh phục.
*- Do đó nước Tề trở thành một nước lớn,
tiếp giáp với Bắc Văn Lang, đóng đô ở Dinh Khâu. Thái Công là người am hiểu về
thuật số toán số biết rõ Văn Lang khí số mạc dần, Bắc Văn Lang sẽ mất về tay
phương Bắc, vì dân Bắc Văn Lang không hiểu gì về văn hóa Cội Nguồn nền Quốc Đạo
dân tộc đã bị mất, tinh thần người dân như ruộng bỏ hoang, rất dễ đầu độc, nên
dạy cho Lữ Cấp tức là Định Công với
những âm mưu lớn.
Thái Công thường dạy Lữ Cấp rằng, nếu
chúng ta có được Bắc Văng Lang thời coi như chúng ta sẽ có tất cả, muốn có được đất Văn Lang không có con đường
nào khác hơn là hàng phục dân Văn Lang bằng con đường văn hóa, đầu độc văn hóa,
bằng con đường bói toán, thuật số, xin xăm, bói quẻ, cầu cạnh thần linh, sẽ làm
mê hoặc dân Văn Lang. Cọng thêm mở mang nghề buôn, nghề thợ, với Văn Lang, giao
dịch với Bắc Văn Lang nghề trồng lúa, nghề cá, nghề muối, nhất là tìm hiểu về
nghề luyện thép, bí mật của nước Văn Lang.
Điều bí mật thành công là phải làm cho Bắc
Văn Lang nổi lên từng vùng đòi tự trị, như phương Bắc chúng ta, khi đó họ đánh
nhau họ cầu cứu ta, ta giúp cho họ thế là ta nuốt trọn họ, họ không theo ta thì
họ còn theo ai, vì họ đã phản lại nhà nước Văn Lang, thời họ không còn con
đường để mà lựa chọn, họ chống lại nhà nước Văn Lang, tức là họ đã ngã về ta, và
ta lần đồng hóa họ, trở thành dân phương Bắc, mà hể dân phương Bắc tới đâu thời
đất Văn Lang mất tới đó.
Phương kế nuốt lần đất Văn Lang, không phải
một đời mà nhiều đời, như tằm ăn dâu, như mối mọt ăn cây, đất Văn Lang mất lần, mất lần, nhà nước Văn Lang
tuy có biết nhưng không sao ngăn chẹn được.
Cướp đất Văn Lang theo kiểu nầy, thời hiệu quả
không chê vào đâu được.
Cứ mỗi lần làm cho họ nồi da nấu thịt, dân
Văn Lang tự tàn sát lẩn nhau, là mỗi lần chúng ta được lợi lớn, chúng ta không
những lấy được đất Văn Lang mà còn gồm thâu được dân Văn Lang, sự thành công
nầy không phải một đời mà nhiều đời. Thái Công chết người con là Lữ Cấp, Định Công kế vị, đi theo con
đường của cha, quả là hiệu quả vô cùng, không những được mặc lợi về giao thương
buôn bán, mà còn được lợi về mặc chính trị, quả thật dân Văn Lang mê say về
thuật bói toán, xin xăm bói quẻ, cầu cạnh thần linh, nghiện đến nổi thiếu thứ
gì thời được, nhưng thiếu về thuật số, bói toán, xin xăm, bói quẻ, cầu cạnh thần
linh thời chịu không nổi, quẻ ứng ông nầy làm Vua, bà nọ làm Chúa thời tin răm
rắp, không những dân chúng mà ngay cả Vương Quan cũng bị mê hoặc.
Và từ đó hình lên mộng tự trị, chia bè
chia nhốm ra, thôn tính lẩn nhau, xưng Vua, xưng Chúa, và được sự giúp đở của
những nước lân cận Bắc Văn Lang, như Ngô, Sở, Tề, thậm chí các nước ở xa như
Triệu, Tấn.
*- Sự mở cửa giao thương hợp tác toàn diện, Nam-
Bắc ở vào thời kỳ nầy, thời kỳ văn hóa Cội Nguồn không còn, là một điều bất lợi
cho nước Văn Lang. Không như thời Hùng Vương dựng nước, văn hóa Cội Nguồn hưng thịnh, càng giao thương hợp tác toàn diện càng có
lợi.
* * *
PHẦN
6.
Nói
về nước xích quỹ Bắc Văn Lang thường có tục lệ vẽ mình làm cho thủy quái, ác
thú không dám đến gần, nhất là dân tộc, Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt.
*- Ngô Thái Bá cùng với em Thái Bá là Trọng Ung,
đều là con của Thái Vương nhà Chu, hai người đều có mộng lớn làm Vua, và là anh
của Quý Lịch, Quý Lịch hiền, nên Thái Vương lập Quý Lịch làm Vua, bị cú xốc nặng biết tình thế không xong, không lẽ
tranh ngôi với em mình, hai người bằng trốn đến đất Kinh, người Nam Bắc di cư
đến ở, giáp ranh với Tây Bắc Văn Lang, Ngô Thái Bá, Ngô trọng ung bắt chước
cắt tóc vẽ mình giống như người Nam
Việt, Âu Việt, Lạc Việt, tự gọi mình là câu ngô.
Những người Nam Bắc, thuộc đất Kinh cho hai ông là
người có nghĩa khí, họ theo hai ông hơn nghìn nóc nhà tôn hai ông làm Vua, Vua
Ngô Thái Bá, Ngô Thái Bá không con, người em là Trọng Ung, lên kế vị ngôi Vua, Vua
Ngô
“ Lịch sữ đã cho ta thấy, văn
hóa cách sống tự trị của người phương Bắc, chỉ cần nghìn gia đình, hoặc vài
trăm gia đình thời đã có Vua rồi, không như nước Văn Lang cả hàng triệu gia
đình mới có Vua.
“ Nói đến đất Kinh dễ lầm đất Kinh Bắc Văn Lang, nhưng
thật ra bên kia biên giới cũng có đất Kinh, đó là đất Kinh Bắc, không phải đất
Kinh Nam.” Ngô Thái Gia, và Ngô Trọng Ung , hai người đều có tham
vọng lớn không chịu một nước Ngô nhỏ bé, theo kiểu tự trị của mình, nên lúc nào
cũng dòm ngó Bắc Văn Lang, bằng lập ra kế sách lâu dài, chiếm lấy cho được Bắc
Văn Lang.
Ngô Thái Gia, Ngô Trọng Ung
đều có kế sách giống nhau,
( Muốn chiếm được đất Văn Lang, chỉ có một
con đường duy nhất, là đồng hóa dân Văn Lang theo văn hóa phương Bắc, văn hóa
tự trị, Vua nổi lên mọc khắp vùng, thôn tính lẩn nhau, tranh giành lẩn nhau,
mạnh được yếu thua, được là Vua thua là giặc, đó chính là cơ hội cho ta thôn
tính Bắc Văn Lang, nhờ sự hậu thuẩn của nhà Chu ). Lúc bấy giờ Võ Vương nhà Chu đã lật đổ thôn tính
nhà Ân, bằng cho người tìm con cháu của Thái
Bá và Trọng Ung, tìm được Chu Chương. Khi đó Chu Chương đã Làm Vua ở nước
Ngô, cho nên nhân đó mà phong chính thức Vua Ngô, sự thừa nhận của nhà Chu, lại phong cho Ngu Trọng, em của Chu Chương, ở phía Bắc đất Chu là đất Hạ. Chu Chương, chính thức được thừa nhận Võ Vương, nhà Chu, phong chính thức Vua Ngô.
Nên nước Ngô càng thêm lớn
mạnh, nhờ gồm thâu một số nước nhỏ. Chu Chương lòng
đầy tham vọng, lúc nào cũng dòm ngó Văn Lang, khi Chu Chương còn nhỏ thường chu
du Bắc Văn Lang nên hiểu rõ Bắc Văn Lang như trong lòng bàn tay. Nay cơ hội ban
giao hai nước láng giềng Nam Bắc họp tác toàn diện, đây chính là cơ hội mộng bá
đồ bành trướng nước Ngô chiếm lấy Bắc Văn Lang.
Chu Chương,
cho người qua ban giao hợp tác, với
các Châu phủ, Văn Lang, láng giềng, lúc
bấy giờ một số Châu phủ, Quan, Vương, tha hóa, bê tha, tham nhũng, tửu sắc, bị Chu Vương câu miếng nào miếng nấy chắc
mẩm, cho người sang qua đầu độc văn hóa, làm cho dân Văn Lang quên đi Nguồn Cội
truyền thống anh Linh của mình, chạy
theo bói toán, cầu cạnh, xin xăm, bói quẻ, mê tín, dị đoan. Quẻ ứng nói con ông
nầy là Vua, con bà kia là Chúa, kích
động nổi lên tự trị nhiều vùng, Bắc Văn Lang dần dần đi đến hổn loạn, nguy cơ
Bắc Văn Lang mỗi ngày mỗi hiện rõ.
*- Kể từ khi Thái Bá và Trọng Ung, lập
nước Ngô, được năm đời, thời Võ Vương tiêu diệt được nhà Ân, phong con cháu của
Thái Bá, ở hai nơi. Một nơi là nước
Ngô ở Man Di, một nơi Bắc đất Chu là đất Hạ, truyền
xuống được mười hai đời, thời nước Tấn tiêu
diệt nước Ngô, ở đất Kinh, chỉ còn
nước Ngô hưng thịnh ở Nam Man Di, tức là ở Tây Bắc Văn Lang, như
vậy mộng xâm lược chiếm đất Văn Lang đã thành công.
* *
*
Nước Sở, Sở Tử họ Mỹ, dòng giống Vua
chuyên húc, Mỹ Tử là Dực Hùng, làm thầy Vua Văn Vương, bởi có công lao, nay Võ
Vương phong nước Sở. Đến thời Sở Linh Công thời mở mang nghiệp bá quan hệ với
Bắc Văn Lang, Sở Linh Công thấy Bắc
Văn Lang quả thật đất đai trù phú, đất đen bốc hơi mạnh, đồng ruộng xanh rì bao
la bát ngát, cá tôm đầy ắp, buôn bán tấp nập thời thèm khác vô cùng, Quý Nhân có tài toán số biết phương Nam
khí thế mạc dần, đất Bắc Văn Lang sẽ mất dần về tay Phương Bắc, bằng bày mưu
hiến kế cho Sở Linh Công, chiếm đoạt
đất đai Văn Lang, Sở Linh Công hỏi chiếm đoạt bằng cách nào, Quý Nhân nói không phải chiếm liền được
đâu, mà phải có kế sách lâu dài, như tằm ăn dâu, như mối mọt ăn cây, phải giao
thương văn hóa với Bắc Văn Lang, làm cho dân Bắc Văn Lang tôn thờ văn hóa
phương Bắc, thời mộng xâm lược chiếm đất Văn Lang mới thành, Linh Công hỏi giao thương văn hóa theo
cách nào?
Quý Nhân nói, giao thương qua con đường buôn bán, xuất khẩu lao
động, qua làm thê cho các lạc điền, hùng điền, mua chuộc các Quan, Châu phủ, Bố
chính, Hửu tư, từng bước từng bước khi nào thấy Bắc Văn Lang hổn loạn, nhiều
nhân vật nổi lên đòi tự trị, chúng thôn tính lẩn nhau đó là thời cơ cho ta
chiếm đất Văn Lang.
*- Hơn
nữa chúng đã đòi tự trị chống lại nhà nước Văn Lang, thời chúng không còn con
đường nào khác hơn là theo về với chúng ta mà thôi, vì thế nước Sở chúng ta
không phải chỉ ở đất Bắc còn có ở đất Nam nữa, Linh Công nghe phải bằng thực hiện theo kế sách đó.
Đến đời, Sở Bình Vương, thời đã chiếm được một phần đất Bắc Văn Lang, Quân Việt
đòi lại nhưng không làm gì được, vào năm 548 trước công nguyên.
Tóm lại; Ở vào thời kỳ Văn Lang suy tàn vì mất đi văn hóa Cội
Nguồn chính sách ban giao Nam Bắc, hợp tác toàn diện, dẩn đến bất lợi cho Văn Lang,
với bao thủ đoạn mánh khóe, hiểm độc, thủ đoạn, xé Bắc Văn Lang ra từng mảnh
nhỏ, tạo ra cơ hội thuận thời cơ thôn tính, một cách dễ dàng, với thủ đoạn ăn
mòn, như tằm ăn dâu, như mối, mọt, ăn cây, nuốt lần đất Văn Lang, các Vua Hùng
ở thời cuối đành bó tay, dẩn đến không những mất Bắc Văn Lang, mà ngay cả Trung
Văn Lang cũng mất luôn, đây là một thảm kịch vì đã mất đi văn hóa Cội Nguồn, bị
văn hóa Bắc phương xâm hại, thôn tính tinh thần dân tộc Văn Lang, luôn theo chiều
hướng có lợi cho chúng, thảm thay thảm thay.
* * *
PHẦN 7
HỒI THỨ NHẤT
Vận thế vần xoay cuộc cơ
trời.
Họa phúc đối đầu mãi ai ơi.
Thiện ác gieo ra rồi phải gặt.
Tránh đâu cho khỏi đạo luật trời.
Đây nói về Võ Cảnh, thoát khỏi họng cọp
rời khỏi triều ca như con chim thoát ra khỏi lồng, băng suối lội rừng, cuối
cùng cũng đến nơi mình muốn đến, được hai Đạo sĩ tả Tiên và hửu Tiên, phò trì. Kêu
gọi tàn quân Ân những người không chịu ra hàng nhà Chu, ẩn vào rừng sâu làm
cướp, số người lên đến hàng nghìn nghìn người, toàn là những tay dũng sĩ tài ba,
lập lên nước Nam Du, Tây Du, xưng là cảnh
ân vương. Mỗi ngày một thêm lớn mạnh, những tên cướp theo về càng đông.
Võ Cảnh lấy vợ người Hồ,
sanh ra Hồ Tôn Vương, Hồ Tôn Vương lấy con gái Chúa Hung Nô là Man Man sanh ra Ân Mao Vương, đây nói về Man
Man,Vương Hậu, Man Man một hôm
nằm ngủ thấy một trận cuồng phong thấy
toàn là yêu tinh quỉ dữ dưới sự chỉ huy con Hồ tinh to lớn đánh về phương Nam
khói lửa đậy trời, lại thấy một con Rồng Vàng xuất hiện, đánh nhau với con Hồ Tinh
to lớn, long trời lở đất Man Man khiếp hồn tỉnh dậy. Không bao lâu thời biết
mình đã mang thai, đến ngày khai hoa nở nhị Man Man sanh ra một em bé kháu
khỉnh, lúc ấy các loài chim dữ bay đến, khi chúng bay đi rơi xuống một chiếc
lông Võ Cảnh liền đặc tên cho con là
Ân Mao, Ân Mao càng lớn càng thông minh kỳ lạ, khôn ngoan đáo để, túc trí
đa mưu, mà còn có mộng bành trướng, có ý gồm thâu thiên hạ, Võ Cảnh thấy vậy
rất vừa lòng.
Một hôm Ân Mao đang
chơi thời bổng thấy ba Đạo Sĩ xuất hiện, con theo ta về động để tu Tiên học Đạo,
nói xong ba Đạo Sĩ cùng Ân Mao biến mất, những người hầu Ân Mao hoảng kinh, báo
cho Tôn Vương cùng Man Hậu Man Nương nghe xong lấy làm kinh hải, Hồ Tôn Vương
nói không sao đâu Mao nhi theo thầy học Đạo không có gì phải lo.
Đây
nói về Ân Mao được ba Đạo Sĩ đưa đến một nơi rất xa xôi, đến
một ngọn núi đá gần một cái hồ rộng lớn, phong cảnh vô cùng xinh đẹp. Đạo Sĩ
mặt trắng dễ coi hơn nói với Ân Mao thầy là Hồ Nhất Tinh, còn đây là Hồ Nhị
Yêu, Ân Mao bước tới quỳ lạy Nhị Yêu mặt xám, Nhị Yêu mặt xám khen thằng bé nầy
thông minh lắm, Nhị Yêu chỉ Tam Quỹ nói đây
là Hồ Tam Quỹ con đến chào hỏi đi, Ân Mao đến quỳ lạy ra mắt nói con là Ân Mao
kính lạy tam sư phụ, Tam Quỹ thấy Ân Mao không những khôn ngoan mà còn đầy lòng
xão quyệt, thời thích lắm.
* * *
Cùng thời với Ân Mao bên đất hung nô em của Man
Man là Mạo Mạo sanh ra một em bé
sát khí đầy trời, nên đặc tên cho em bé là Sát
Sát, cũng cùng thời lúc ấy, bên đất Hồ, Hồ Nương Nương cũng hạ sanh một bé
gái, lúc hạ sanh bé gái thời một trận gió nổi lên làm cát bay đá chạy, nên đặc
tên cho em bé là Nghịch Phong. Nghịch Phong
lớn lên không những xinh đẹp mà thường làm những điều không ai tưởng tượng
nổi, như treo ngược mình lên cây, chơi với loài hung dữ như cọp, beo, sói. Một hôm Nghịch Phong đang
chơi, bổng một luồng cuồng phong xuất hiện cuốn phen Nghịch Phong đi mất.
Đây
nói về Sát Sát càng lớn càng xinh
đẹp lại ưa chơi với loài hung độc như rắn, rít, bò cạp, tính tình tàn độc vô
cùng, tuổi còn nhỏ mà đã giết chết Nữ Tỳ, Tỳ Nữ không ai là không khiếp sợ.
Một hôm Sát Sát đang chơi thời một Đạo Cô xuất hiện thu nhận Sát Sát làm đệ
tử, bay lên mây rồi biến mất.
* * *
PHẦN
8
HỒI
THỨ NHÌ
Đây nói về thời hạ Hùng Huy Vương, đời thứ 6 (Pháp Hải Lang) nước Văn Lang đã bắc đầu
suy vong, vì nền văn hóa Cội Nguồn đã mất lần hết những điều cơ bản dẩn đến độc
tài độc trị, dân chúng mỗi ngày mỗi mất lòng tin, cuộc sống lần lần không còn
bình đẳng, quyền con người cũng
dần dần biến mất, thay vào đó
là chế độ độc trị, độc tài, không khác gì phương Bắc, Vua là trên hết.
Không như thời dựng nước tối cao của nước Văn Lang không phải là
Vua, mà là nền Quốc Đạo dân tộc, Hiến
Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công bằng bình đẳng xã hội. QUỐC TỔ VUA HÙNG, là vị
vua tối cao, tôn thờ Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, nắm giữ cán cân Công lý xã
hội, lập ra tam quyền phân lập. LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP, ĐẠO PHÁP ĐỘC LẬP.
Lãnh đạo và điều hành đất nước.
Ở
thời kỳ hạ Hùng Vương đời thứ 6, thời bộ máy nhà nước Văn Lang chỉ là
nhà nước độc quyền, độc trị, theo kiểu độc quyền, độc trị ở phương Bắc, tất cả
quyền hành đều dồn hết cho một quyền lực đó là Vua.
Không còn Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp công
bằng bình đẳng xã hội trên hết nữa, Vua muốn làm gì thì làm, không cần thông
qua bộ máy nhà nước. Mà sống theo chế độ thể chế độc trị, độc tài.
Cái
độc trị, độc tài ấy lần lần ăn sâu vào các cấp Lãnh đạo nhà nước Văn Lang, từ
Vua, Quan, các cấp, cho đến chí dân. Lần lần ai nấy cũng chỉ biết nghĩ đến cái
lợi của mình, dân lần trở thành vô cảm, tính đoàn kết không còn như thời ông cha
nữa, còn Vương Quan thời vơ vét tốm thâu bao cái lợi về mình.
Sự
khởi đầu, dân chúng bất bình chính là độc tài, độc trị nầy, càng về sau các Vua
Hùng càng nặng, cũng như Vương Quan các đời về sau càng nặng, dẩn đến xa rời
dân chúng, ai cũng vì túi riêng của mình, hà khắc sách nhiễu dân chúng. Mở
đường cho bao mối họa sanh ra nội loạn, cơ hội cho ngoại xâm, xâm chiếm đất
đai.
Hùng Huy Vương lâm triều lúc nào cũng nghe tấu sớ báo cáo Bắc Văn Lang
dân chúng nổi lên dấy loạn khắp nơi đòi tự trị, Vua Hùng nổi giận nói, con cháu
Tiên Rồng mà bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu, đến thế sao. Các Bộ, các
Châu, các Quận, các Huyện, sao để xảy ra những chuyện ấy, bằng ra cáo văn chỉ
thị. Những Bộ, những Châu, những Huyện, những Quận, có nội loạn về kinh đô hội
kiến. Không bao lâu thời các Bộ, các Châu, các Quận, các Huyện, có nội loạn dân
chúng nổi lên đòi tự trị, về kinh đô báo cáo thật tế tình hình.
*- Nhìn
Kinh Đô thật yên bình, nay đã là tháng ba thế mà trời đất vẩn chưa được trong
xanh sáng tỏ, lúc nào cũng u ám như có điều chi buồn bả, buôn tiếng thở dài ông
cụ nói,
Lòng tham con người không kìm
chế được thời chuyện gì cũng xảy ra, hôm nay là ngày hộp trọng đại nơi triều
nội, tí nữa là ta quên mất, người đó là ai thế.
Người đó không ai khác hơn là Lạc Vương, Hửu Thừa Tướng, đứng đầu
trăm quan.
Các Quan đầy đủ, Vua Hùng lâm triều, tấu
sớ dâng lên nhiều hơn mọi lần.
Hùng Vương xem cáo văn báo cáo, các Bộ, Châu,
biên giới Bắc Văn Lang như sau.
Thần là Lạc Hầu Vương cũng như các Châu,
các Bộ hết lòng vì dân vì nước, nhưng không hiểu vì sao dân chúng lại dấy loạn
đòi tự trị, nổi dậy chiếm lấy Tây Bắc biên giới Văn Lang biên giới Bắc Văn
Lang, Đông bắt Văn Lang, Bách Việt Bắc Văn Lang không còn đoàn kết như xưa, mà nổi
lên đòi tự trị nhiều vùng, tệ hại hơn nữa. Bộ Bắc Đái, các Châu, Quận, Huyện
chỉ cần tập họp vài trăm nóc nhà cũng tự xưng là Vua, Thần đem quân dẹp loạn.
Nhưng dẹp yên chỗ nầy, thời chỗ khác lại mọc lên, máu dân Văn Lang đã bắt đầu
đổ, không cách gì vổ yên dân chúng cho được. Càng dẹp loạn thời các thế lực tự trị chúng
liên kết lại với nhau. Tạo lên một sức mạnh chống trả, chống trả không lại
chúng cầu viện phương Bắc. Cảnh nồi da nấu thịt vô cùng thê thảm.
Trận chiến ở Huyện Tây Bắc Châu, Huyện Tây
Trung Châu, Huyện Hạ Tây Châu, dân Văn Lang cả hai bên thiệt mạng hơn nữa vạn
người, bố chính Tây Châu bỏ mạng, bố chính Trung Châu bỏ mạng, bố chính Hạ Châu
bỏ mang, chúng cầu viện quân Ngô đành phải thất thủ Tây Châu, Châu Phủ bị chúng bắt không còn biết sống
chết ra sao.
Các Quan nghe báo cáo tình hình
như vậy ai nấy đều thất kinh.
Các
Quan nghe tấu sớ bộ Lục Hải, lại càng kinh hải hơn nữa, nguyên văn như thế thế
nầy.
Bẩm Quốc Vương, hạ thần là Lạc Công Hầu, ở bộ Lục Hải tình hình Đông Hải Châu, Đông Bắc Hải Châu, Hạ Giang Châu
dân chúng đòi nổi lên tự trị, vì cho rằng Thần Thánh nói Bắc Văn Lang sẽ mất,
cơ vận Hùng Vương đã hết đất Văn Lang chia ra nhiều nước, như bên Bắc nhà Hạ,
nhà Thương, nhà Ân, nhà Chu. Trời chỉ định ai được thiên hạ thời người đó được,
đất đai không thuộc của người nào. Vì thế Bách Việt Văn Lang dân tộc nào Trời
chỉ định dân tộc đó là Vua. Vì có sự tiên đoán của Thần Linh, và cũng như sự
ứng quẻ của Đất Trời. Dân chúng những Châu Phủ trên, đã trở nên cuồng tín chỉ
biết nghe theo Thần Thánh, nhất là Thần Thánh ở đất Bắc. Dân chúng đã dựng miếu
thờ khắp nơi, nhập đồng nhập xác hiển Linh
lắm, thời thế hiện nay dân chúng chỉ biết nghe theo bói toán, ứng quẻ, nhập
đồng, nhập xác, cầu cạnh thần linh, thần linh nói sao dân chúng nghe theo vậy, quẻ
ứng.
Nói cậu nầy làm Vua, ông kia
làm Chúa, thời dân chúng nghe theo răm rắp, vì thế mà nhiều khu tự trị đã nổi
lên, hơn trăm nóc nhà cũng xưng Vua, xưng Chúa.
Hạ
Thần ra lệnh gôm thu quân binh các Châu
hơn 10 vạn, rồi giao cho Lạc Tướng thống
lãnh hơn vạn quân binh dẹp loạn, dẹp được chỗ nầy, thời Vua chỗ khác đã mọc
lên, sự phản loạn đòi tự trị ấy, phải nói là có bàn tay phương Bắc tham gia,
diệt tự trị chỗ nầy, tự trị chỗ khác lại mọc lên. Chúng liên kết với nhau chống
trả lại quân Văn Lang mỗi ngày mỗi quyết liệt, chúng thua chúng chạy sang qua Bắc
cấu kết với nước Hải Nam, nước Mục Lăng, hiện nay đã theo về với nước Tề, nhờ sự trợ giúp của nước Tề quân ta đã đại bại,
thiệt hại hơn phân nữa binh lính, quân nổi dậy nhờ sự ểm trợ của quân Tề nên đã
thất thủ Đông Hải Châu, Đông Bắc Hải Châu,
Hạ Giang Châu, cũng không thể giữ nổi trong nay mai, nếu tình hình nầy kéo
dài e rằng mất luôn Bắc Văn Lang, nguy cơ mất Bắc Văn Lang là điều không sao
tránh khỏi, nếu không có quân chủ lực dẹp yên chúng. Vua Hùng lại xem tấu sớ
của Bộ Giao Chỉ thời thất sắc, nội dung tấu sớ thế nầy.
Bẩm
Quốc Vương hạ Thần, Lạc Vương, phụng
báo như sau.
Tình hình Bắc Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Giao Giao Minh Châu, Dương Giang
Giao Châu, là những Châu lân cận với đất Bắc, thuộc bộ Giao Chỉ, không hiểu
vì sao Bách Việt Văn Lang lại nổi lên đòi tự trị, nổi lên Vua Chúa khắp nơi, không khác gì ở
phương Bắc, chỉ cần hơn vài ba trăm nóc nhà thời có Vua nổi lên, Vua nầy thôn
tính Vua kia làm rối loạn khắp nơi, những trận giao tranh tiêu diệt lẩn nhau dữ
dội, gươm đao giáo mác, cung tên, nhập từ phương Bắc, vũ khí binh lính không
kém gì Văn Lang chúng ta, với tình hình như thế quân ta không biết đánh ai bỏ
ai, cuối cùng họp bàn đi đến thống nhất, là quét sạch những quân nổi dậy đòi tự
trị, do Lạc Tướng, Hầu Tướng, chỉ
huy một cuộc ra quân rầm rộ chúng biết đánh không lại liền chạy qua đất Bắc
liên kết thành một sức mạnh dưới sự trợ giúp của quân Sở, chúng trở lại phản công thế là một trận giao tranh quyết
liệt giữa quân ta với quân phiến loạn đòi tự trị, Lạc Tướng tử trận, Hầu Tướng bỏ mạng, chúng Bắc sống hơn mười vị
Quan Tướng Bố Chánh. Chúng đã chiếm cứ, Bắc
Giang Giao Châu, Lạc Giang Giao Châu, Dương Giang Giao Châu, chỉ còn Giao Giao Châu đang cầm cự, không biết thất thủ lúc nào, nói chung
là đã mất hơn 25 Quận Huyện, đọc xong tấu sớ ai nấy cũng kinh hoàng, còn một
điều vô cùng khẩn cấp hơn nữa, là quân
Ân, quân Hồ, quân Hung Nô, đã khởi động sắp tràn qua đánh chiếm Bắc Văn Lang,
chiếm lấy toàn bộ vựa lúa lớn nhất của chúng ta, nếu mất Bắc Văn Lang, thời
nguy cơ thiếu ăn trầm trọng, dân chúng Văn Lang chúng ta sẽ chết những đói, những
năm thời tiết không thuận.
Nghe tin quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô
xâm lược, thời Vương Quan ai nấy cũng kinh hoàng. Việc nội loạn chưa giải quyết
xong, thời quân ngoại xâm đã kéo đến.
Hùng Huy Vương nói các Quan văn võ có kế sách gì không? Khi
ấy có vị Quan Vương nổi tiếng là học nhiều hiểu rộng, Lạc Vương Thừa Tướng, là con của Lạc Vương Công, thời Hùng Vương đời thứ 4, Hùng Diệp Vương, có công
ban giao hợp tác toàn diện Nam Bắc Văn Lang với nhà Chu.
Tâu rằng: Bẩm Quốc Vương bệ hạ, chúng ta
nên cho người đưa thư của bệ hạ đến nhà Chu trình lên Chu Mục Vương Thiên Tử, giúp đở không cho Tề, Ngô, Sở, giúp sức cho quân phiến loạn Văn Lang, bớt đi một sức mạnh,
hầu mong chống trả lại quân xâm lược.
Thế là Hùng Huy Vương, sai Việt
Thường Lạc Hầu Thị, đi sứ dâng thơ lên Thiên Tử Chu Mục Vương, Nhà Chu, đi sứ dâng thư ba lần nhưng không kết quả, Mục Vương nhận thư nhưng lờ đi.
Hùng Huy Vương
vô cùng tức giận nhưng biết phải làm
sao, không còn giải pháp nào cao hơn nữa là cầu Hiền Tài ra giúp nước.
Ở vào thời kỳ ấy, ở Bộ Ninh Hải, Châu Đông Hải, Huyện Đông Châu, có hai anh em sinh đôi tên là Nguyên Dực và Nguyên Minh,
là cháu nhiều đời của Quan Lạc Tướng Nguyên Đô, có tài hay phép lạ, võ nghệ cao
cường, tinh thông binh pháp, tiếng tăm đồn xa.
Hùng Huy Vương
cho người mời hai anh em về triều phong cho làm Lạc Tướng thống
lãnh 40 vạn quân đến Bắc Văn Lang kết hợp với quân binh các Châu, các Bộ, trừ
quân phiến loạn, cũng như chống trả lại quân xâm lược.
*
* *
HỒI THỨ BA
ÂM MƯU XÂM LƯỢC
Lòng tham quả thật kinh
người.
Ngày đêm toan tính nuốt thời Văn Lang.
Ngoại xâm bè lũ sói lang.
Cáo, chồn, múa vuốt, ăn gan hại
người.
Mưu mô quỉ quyệt hại đời.
Văn Lang binh lửa khắp cùng thương
đau.
Đây nói về Ân Mao theo học với ba sư phụ, võ nghệ cao cường, thần thông pháp
thuật vô biên, mới đó mà đã trên hai mơi tuổi, lấy được hai người vợ không
những xinh đẹp mà còn võ nghệ cao cường, tài hay phép lạ, ít người địch lại, Hồ Tôn Vương mất, Ân Mao lên thay gọi là Ân
Mao Vương, Ân Mao Vương là tay khôn ngoan xão quyệt, lắm mưu nhiều kế, liên
kết Hung Nô, liên kết Hồ Vương, tạo lên thế lực Tam Vương hùng mạnh, nhà Chu
cũng không làm gì nổi.
Với mộng bành trướng, Ân Mao Vương lúc nào cũng muốn gồm thâu thiên hạ, nhìn thấy Bắc Văn
Lang dân chúng chia năm xẻ bảy, lại hiểu rõ Tề, Sở, Ngô, muốn nuốt Bắc Văn Lang, đây là cơ hội làm nên nghiệp
bá chiếm lấy Bắc Văn Lang, trước Tề, Ngô, Sở, nhưng còn ngại nhà Chu ngồi chờ
hai hổ đánh nhau thợ săn đắc lợi, không những lấy được Bắc Văn Lang mà còn tận
diệt mình,
Ân
Mao Vương bằng nghĩ ra một kế sách, muốn nuốt được Bắc Văn Lang, một mình quân Ân
không làm nổi, mà còn gặp nhiều nguy
hiểm. Chi bằng liên kết với quân Hồ, quân Hung Nô, hợp lực chiếm lấy Bắc Văn Lang,
Ân Mao Vương hiểu rõ quân Hung Nô, quân Hồ, không những tàn bạo, mà còn lấy sự
chém giết cướp bóc làm sở thích.
Trên
khắp Thế Giới hiện nay không nơi nào giàu có như nước Văn Lang, không thứ gì là
không có.
Chỉ cần nói lên sự giàu sang, không thứ gì
là không có nẩy khơi động lòng tham, đánh thức lòng háo chiến, đánh thức lòng
cướp bóc, thời nhất định quân Hung Nô, quân Hồ sẽ tham gia.
Bằng mở ra cuộc hội Tam Vương, vô cùng
long trọng, đàn ca múa hát, rượu thịt đầy bàn, toàn là những món ngon.
Hung Nô Vương khen, quả thật
đây mới đúng là sơn hào hải vị, không mấy dễ mà có được.
Hồ Nghi Vương cũng nói, có những món tôi
chưa bao giờ được thấy, chớ đửng nói là được ăn.
Trong lúc vui vẻ, Ân Mao Vương nói với Hồ
Nghi Vương, Hung Nô Vương rằng.
Những sơn hào hải vị nầy, chỉ là những sơn
hào, hãi vị tầm thường Bắc Văn Lang, Bắc Văn Lang nổi tiếng là giàu có không
những sơn hào hải vị thuộc bật nhất Thế Giới,
mà còn châu báu cũng bật nhất thế giới.
Ân Nao Vương, bằng lấy ra hai viên Dạ Minh
Châu, tặng cho Hung Nô Vương một viên, Hồ Nghi Vương một viên, hào quang tỏa
lên rực rỡ.
Hung Nô Vương khen, tôi chưa hề thấy viên
Dạ Minh Châu nào quý hiếm như viên Dạ Minh Châu nầy.
Hồ Nghi Vương cũng nói, quả là hiếm quý
không dễ gì có được.
Mao Ân Vương nói, đây là những viên Dạ
Minh Châu bực thường của Bắc Văn Lang.
Hung Nô Vương tỏ vẽ thèm thuồng, nói sao
ta không hiệp lực lại đánh chiếm Bắc Văn Lang, làm bá chủ sự giàu sang, ăn chơi
sung sướng.
Hồ nghi vương nói, ba ta mà hiệp lực lại
với nhau nói gì Bắc Văn Lang, đánh chiếm nước Văn Lang còn được.
Mao Ân Vương vô cùng mừng rỡ nói, thế lực
của ba chúng ta hiện nay nhà Chu cũng phải kính nể, không dám đụng đến, biết
rằng ba chúng ta xưng Vương ngang hàng với nhà Chu, thế mà nhà Chu không làm gì
được chúng ta,
Ân Mao Vương nói phương Bắc nhà Chu không
có đất nào là béo bở như Bắc Văn Lang, mà toàn là những nước nhỏ, đã dày dạn chiến
tranh, khó thôn tính hơn Bắc Văn Lang.
Bắc
Văn Lang hiện nay đang trong thời kỳ hổn loạn, tuy nhiều bộ lạc nổi lên xưng
Vua Việt, nhưng chỉ là những Vua Việt không dày dạn chiến tranh, như những vị Vua
ở phương Bắc, những con cừu con xưng Vua mà thôi, chỉ cần quân ta tràn tới,
thời chúng chỉ là con mồi cho chúng ta xơi.
Mao
Ân Vương nói, phương Bắc luôn dòm ngó mãi phương Nam, chỉ cần có cơ hội là
chiếm lấy, vì Bắc Văn Lang giàu có trù phú vô cùng, vàng, bạc, ngọc ngà, châu
báu, nhiều vô số kể. Những thứ hiếm quý Bắc phương không bao giờ có.
Hiện nay nước Văn Lang đến hồi suy vong,
Bắc Văn Lang chia năm, xẻ bảy, nhiều Vua đã nổi lên, đây là cơ hội cho ta chiếm
lấy Bắc Văn Lang, trước nước Tề, nước Sở, nước Ngô.
Hung
Vương là tay đệ nhất háo chiến nói quân Hung Nô nhận lãnh đánh tiên phong, Hồ Vương
cũng là tay háo chiến không kém gì nói, Bắc Văn Lang rộng lớn vô cùng tha hồ mà
tung hoành cướp bóc, chiếm lấy, cả ba chúng ta không ai nhường ai, hể ai chiếm
được bao nhiêu thời là của người đó, thế là Tam Vương đánh chiếm Bắc Văn Lang.
Quân Hồ, quân Hung Nô, quân Ân,
đều mạnh về thiết kỵ binh, vó ngựa vang rền biên giới Tây Bắc Văn Lang.
Đã
nhốm màu binh đao máu lửa, quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân, tràng qua như nước
lũ.
* * *
HỒI
THỨ BỐN
XÂM LƯỢC
Cội nguồn văn hóa đã mất đi.
Vận nước Văn Lang khổ li bì.
Binh đao máu lửa ôi cùng khắp.
Nồi da nấu thịt mạng còn chi.
Cơ hội nghìn năm giặc tràn đến.
Chúng xơi chúng nuốt béo phi phi.
Tan nhà nát cửa xưa nay thế.
Đồng bào tàn hại nước lâm nguy.
Đây nói về Bắc Văn Lang, tình hình càng về
sau càng trầm trọng, các Bộ Lạc Bách Việt nổi lên đòi tự trị, tranh giành quyền
lực, xưng Vua, xưng Chúa, thôn tính tiêu diệt lẫn nhau, không khác gì phương Bắc
vài ba trăm nóc nhà cũng xưng Vua, nồi
da nấu thịt, thắng là Vua thua là giặc, xem đi xét lại giặc với Vua chẳng khác
gì nhau.
Bổng
quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân, từ phía Tây Nam nhà Chu, tràng qua Tây Bắc Văn
Lang như kiến. Chúng chia làm ba mũi
thọc sâu vào đất Bắc Văn Lang, trước sức
mạnh quân Hung Nô, quân Hồ, quân Ân, những Vua Việt nổi lên tự trị chống trả
không lại đành phải bỏ mạng, quân Ngô, quân Sở, quân Tề, chiếm đóng trên đất
Văn Lang, biết chống trả không lại đành phải rút lui về đất Bắc. Quân Hung Nô,
quân Hồ, quân Ân, thế mạnh như chẻ tre, như trận hồng thủy tràn tới đâu là cuốn
sạch tới đó.
Chúng như ba con quỉ dữ nuốt
nhanh chóng Châu Phủ, Quận, Huyện, Văn Lang.
Huyện Tây
Bắc, Huyện Tây Trung, Huyện Hạ Tây, nuốt
luôn Châu Phủ Tây Châu, Tây Bắc Châu, giết
chết Vua Di Việt, Vua Phiên Việt, nhanh
chóng tràn xuống Bắc Văn Lang, chiếm lấy các Châu Phủ như lấy đồ trong túi, chiếm
lĩnh Dương Giang Châu, Giao Giao Châu, Bắc Giang Châu.
Giết chết Vua Dương Việt, Vua Giao Việt, Vua Trung Việt. Tam quân như ba con quỉ
dữ hung tàn bạo ác vô cùng quy hàng thời sống, chống lại thời chết, ba con quỉ
dữ nhanh chóng nuốt luôn Kinh Giao Châu,
giết chết Vua Kinh Việt thọc sâu
xuống sang bằng Đông Bắc Hải Châu, giết chết Vua Kiều Việt, tiến thẳng về phía Nam thôn tính Đông Hải Châu, giết chết Vua
Đông Việt, tỏa rộng bao vây tốm gọn Hạ Giang Châu, giết chết Vua Điền Việt,
chưa đầy một năm ba con quỉ
nuốt trọn tất cả các Châu như thế, làm chủ gần một nửa Bắc Văn Lang. ( Những vị Vua việt bị giết chết nói
trên là những vị Vua lớn ngang hàng với nước Sở, nước Ngô, nước Tống, nước Tấn,
nước Ngụy, nước Yên, ở phương Bắc. )
* * *
Thê thảm nào hơn thảm cảnh nầy.
Quan hệ sói lang nạn là đây.
Bất trung bất hiếu lìa cội gốc.
Tôn thờ lũ giặc, giặc chuyển xây.
Theo giặc, giặc hại luôn là thế.
Làm giặc, thời giặc đến bủa vây.
Chia năm, xẻ bảy, xưng hùng bá.
Nắm đủa rả rời, giặc bẻ từng cây.
* *
*
HỒI THỨ NĂM
KHỐN KHỔ
Nước loạn cơ nguy vốn xưa nay.
Nồi da nấu thịt cảnh đọa đày.
Đến khi thức tỉnh thời đã muộn.
Cơ nghiệp còn đâu trắng trắng tay.
Gông cùm xiềng xích thân nô lệ.
Tự do mất hết họa tai bay.
Sa vào cạm bẩy mưu phương Bắc.
Nước mất nhà tan ngục thế thay.
Đây nói về Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỹ, Bắc
Văn Lang, cố thủ chống trả quân Ân, đã hơn một trăm ngày chờ mãi viện binh
không thấy đến, lương thực đã bắt đầu cạn lần, nguy khốn mỗi ngày một thêm
chồng chất.
Hùng Lang Công
vô cùng nóng lòng đi tới đi lui, lo lắng
không yên, lẩm bẩm quân Xích Linh sao
không thấy tới cứu viện, còn quân Giao Châu
nữa sao mà chậm trể thế, hay có chuyện gì xảy ra không.
Còn Lạc
Hầu Công vào Kinh Đô Văn Lang cầu viện hơn tháng sao chưa thấy về, hay là
bị giặc bắt rồi, Hùng Lang Công càng nghĩ càng lo.
- Đang
trong lúc lo lắng không yên, thời có quân vào báo
Bẩm Vương Công, quân Ân lại
tới khiêu chiến, Hùng Lang Công, cùng
các Quan lên thành xem thấy từ doanh trại của giặc Ân ước lượng hơn năm nghìn
quân chúng rầm rộ kéo tới kinh thành khiêu chiến.
Tướng giặc quả là oai phong lẩm liệt, đầu
đội kim khôi, mặc giáp đồng, cầm thanh đại đao sáng loáng có ngời, cỡi con ngựa
trắng giọng nói vang như sấm, chỉ nhìn sự uy dũng của tướng giặc, cũng đã uy
hiếp tinh thần đối thủ hết mấy phần rồi,
- Tướng giặc đến trước cổng thành lớn giọng
chửi rủa
con cháu Tiên Rồng mà nhác
như thế sao, oai phong ông cha các ngươi đâu hết rồi, chỉ là một lũ bị thịt,
thôi thì mở cửa đầu hàng, thời ta cho các ngươi con đường sống, trở thành dân
nô lệ, còn nếu sợ quá cố thủ thời ta chờ các ngươi sạch ruột, làm thịt mới
ngon.
Hùng
Điền con của Hùng Lang công nghe tướng giặc chửi rủa tức giận chịu không
nổi, bằng nói với Hùng Lang Công rằng, chúng ta đánh một trận với chúng có chết
cũng cam, nổi nhục nầy không thể nào nhịn được, các tướng ai nấy cũng đồng tình
lời nói của Hùng Điền, thà chết nhất định không chịu nhục.
Hùng Lang Công,
nghĩ đã là con cháu Tiên Rồng thời
còn sợ ai mà co đầu rụt cổ, có chết thời chết cho anh hùng.
Bằng trao ấn lịnh cho Hùng Điền.
Hùng Điền vô cùng mừng rỡ, bằng điểm hơn
năm nghìn binh, mở cổng thành ra xông ra nghinh chiến với giặc.
Tướng
giặc thấy người ra trận là một trung niên mặt trắng, đầu đội kim khôi, mình
mang giáp đồng, tay cầm trường thương, cỡi con ngựa hắc long, oai phong lẩm
lẩm,
Hùng Điền, phi
ngựa lao tới quát lên như sấm nổ tên giặc ngoại xâm hổn láo kia mau xưng tên họ
rồi nạp mạng.
Tướng
giặc ra oai không kém hét lớn, loài Rồng thời ta còn ngán, còn loài giun thời ta chẳng coi vào đâu, mau xuống
ngựa quỳ xuống ta cho cái chết toàn thây, Hùng Điền không nói không rằng phi
ngựa lao tới, trường thương vun vút nhắm đối thủ tấn công như vũ bão.
Tướng
giặc cũng không kém hét lên một tiếng phi ngựa lao tới xáp chiến, binh khí chạm
nhau đinh tai nhứt óc
Binh lính hai bên chiêng
trống dậy trời.
Nhìn trận địa rền vang chiêng trống.
Bụi mịt mù ngựa cuốn vòng xoay.
Thương đao chơm chớp trời mây.
Ầm ầm trận địa giao tranh ầm ầm.
Đánh hơn năm mươi hiệp mà
chưa diệt được kẻ thù Hùng Điền hét
lên một tiếng, dùng chiêu thái sơn áp đỉnh, cọng với chiêu âm dương sát thủ như
tia chớp đâm đánh tướng giặc, tướng giặc thấy trường thương chớp chớp cuốn tới
như một trận lốc, thời thất kinh múa đao lên chống đở đùng đùng ầm ầm, tướng
giặc sít chút nữa thời bỏ mạng. Tướng giặc không còn dám xem thường nữa, dùng
tuyệt kỷ yêu đao phi ngựa chém tới ầm ầm, yêu đao chơm chớp như mưa sa, người
ngựa phóng lên không chém xuống.
Hùng Điền bình tỉnh dùng chiêu ngọa Hổ tàng
Long, chống đở, hai bên đánh nhau kẻ tám lạng người nửa cân hơn trăm hiệp vẩn
chưa phân thắng bại.
Quả là:
Con cháu Tiên Rồng vốn anh hùng
Trường thương vun vút đảo càn khôn.
Mưa tuôn quyền pháp rền sông núi.
Vó ngựa réo vang đánh dập dồn.
Hùng Điền quyết giết cho bằng được tướng giặc, nên trường thương càng lúc càng
lợi hại, tướng giặc biết đánh không lại, bằng nghĩ ra một kế giả thua bỏ chạy
giết chết Hùng Điền, quả là Hùng Điền đã trúng kế rượt đuổi theo tướng giặc,
bất thình lình tướng giặc quăng lên không một vật, tức thì một luồng khói độc
tuông ra, Hùng Điền bất ngờ tránh không kịp bị khói độc tuông trúng xây xẩm mặt
mày, tướng giặc quay ngựa trở lại nhanh như chớp chém Hùng Điền một đao bỏ mạng.
Quân
Ân thắng thế ào ào lao tới đánh cho quân Văn Lang một trận tơi bời hơn năm nghìn
người chỉ còn có mấy trăm. Hùng Lang Công
thấy con chết vô cùng đau xót,
Hùng Tướng thấy
em chết, vừa đau xót, vừa căm hận quân giặc, quyêt tâm trả thù cho em, liền nói
với Hùng Lang Công rằng.
Thưa
cha, cho con ra trận giết thằng giặc đó trả thù cho em. Hùng Lang Công cũng vô
cùng căm tức, bằng nói con ra trận hết sức cẩn thận, không nên rượt đuổi theo
tên giặc,
Hùng Tướng bằng
điểm năm nghìn quân tinh nhuệ, mở cổng thành ào ào lao tới hò hét xáp chiến với
quân Ân,
tướng giặc Ân cũng ra oai
không kém, hò hét thúc quân xáp chiến.
Thế là dậy núi dậy non.
Quân reo, giáo đổ, kiếm tuôn ầm ầm.
Quân ân khiếp vía rụng rời.
Thây người gục ngã đất trời rung rinh.
Bất ngờ yêu, quỉ, ma, tinh.
Đầy trời xuất hiện rung rinh đất trời.
Văn Lang quân tướng tàn đời.
Phơi thây chiến trận ôi thời thảm
thương.
Vì dân vì nước hy sinh.
Văn Lang Quân, Tướng, anh linh
muôn đời.
Nói
về Hùng Lang Công, cùng các tướng ở trên thành xem trận địa, thấy quân Văn Lang
đánh quân Ân tơi bời, thây phơi chật đất, vui mừng vô kể.
Cùng lúc ấy từ doanh trại của giặc Ân,
thấy một bóng vụt lên hư không, thì ra đó là một nữ tướng, cỡi con ngựa thiên lý
mã, chớp mắt đã tới trận địa.
Hùng Lang Công thất kinh thét
lớn con ta nguy mất, chỉ thấy nữ tướng tay chỉ lên hư không, tức thời yêu, tinh,
ma, quỉ, hiện ra đầy trời, mây đen cuồn cuộn, quân Văn Lang chỉ trong phút chốc
chết không còn một mạng, từ đó Kinh Đô cố thủ cầu mong quân tiếp viện đến mà
thôi.
* * *
HỒI THỨ SÁU
TỬ CHIẾN
Chúng
dân lạc Cội nước khốn nguy.
Binh đao máu lửa khổ li bì.
Chồn, cáo, can qua ăn nuốt
sống.
Tan nhà nát cửa mạng còn chi.
Đây nói về Kinh Giao Châu, cách Kinh Đô không xa
chỉ hơn 30 dặm, nghe Kinh Đô bị bao vây,
liền bàn kế đưa quân tiếp ứng, Lạc Đô Tướng nói với quan tổng chính, khi ta đưa quân đến cứu viện
Kinh Đô, nếu có giặc đến tấn công thời cố thủ mà thôi, dặn dò xong đâu vào đấy.
Đô Tướng liền mở cổng
thành dẫn hơn một vạn quân nhanh chóng đến Kinh Đô, quân binh vừa đến Huyện Giao Trung, đến đồi Lạc Địa, thời
nghe tiếng reo hò dậy trời dậy đất, quân Ân hiện ra lớp lớp, gươm đao giáo mác
sáng ngời.
Lạc Đô Tướng, thấy người dẫn đầu quân Ân là một nữ tướng trung niên,vô
cùng xinh đẹp, liền có ý coi thường.
Lạc Đô Tướng giục ngựa tới hét, mau xưng
tên họ, đàn bà con gái mà cũng ăn cướp xâm lược, gặp ta là coi như đã tới số,
mau xuống ngựa chịu trói, thời ta cho
cái chết toàn thây. Bằng không xương thịt nát nhừ.
Không
ngờ nữ tướng không sợ mà còn thét lên lanh lãnh, ngươi đã gặp Sát Sát ta, thời ngươi đã hết con đường sống, trời
sanh ra đất đai, là không phải của riêng ai, người nào có tài thời người đó được,
Văn Lang đã đến thời mạc, đất đai sẽ thuộc về người khác, mau quy hàng thời ta
cho cái chết toàn thây.
Lạc Đô Tướng
quát! đồ hổn láo rồi phi ngựa tới thét lớn, nộp mạng đi,
thanh đại đao chém tới với một sức mạnh kinh hồn, hai bên quân lính tướng tá,
reo hò dậy núi dậy non. Không ngờ nữ tướng không cần né tránh đưa đao lên chống
đở, Đô Lạc Tướng thấy thế vui mừng quát! xong đời nầy. Không ngờ một tiếng ầm
kinh thiên động địa, cả người lẫn ngựa bị dội ngược trở lại, lòng bàn tay đau
buốt. Lạc Đô Tướng, kinh hoàng như
không tin ở mắt mình,
Nữ Tướng quát lên lanh lãnh,
giục ngựa lao tới đại đao vun vút chém tới, kình phong tuôn ra ù ù.
Lạc Đô Tướng không còn xem thường nữa dốc
hết sức bình sanh ra chống đở, hai ngựa quần thảo với nhau khói bụi mịt mù,
binh khí chạm nhau đinh tai nhứt óc.
Lạc Đô Tướng càng đánh càng yếu thế, đánh
nhau hơn năm mươi hiệp, Lạc Đô Tướng chỉ còn nhờ vào tuyệt chiêu cuối cùng may
hạ gục đối thủ, liền hét lên một tiếng vận dụng hết sức bình sanh đánh ra tuyệt
chiêu, liên hoàn đao pháp, ánh đao chớp chớp, liền biến ra ảo ảnh chín đường
đao chém tới, quả là một chiêu vô cùng lợi hại.
Nữ tướng thấy chiêu đao pháp quá lợi hại như
vậy, liền tàn hình biến mất.
Lạc Đô Tướng thất kinh, chưa biết phải làm
sao, thời nghe trên không có tiếng gió lao xuống, thất kinh Lạc Đô Tướng múa
lên thiên vạn đao chống đở, chỉ biết ầm ầm đinh tai nhứt óc, bốn vó ngựa Lạc Đô
Tướng lún sâu.
Lạc Đô Tướng chưa hết kinh hồn,
thời một tia chớp nổi lên Đô Tướng tránh không kịp trúng một đao bỏ mạng,
sau có thơ khen rằng :
Sống ở đời, không ai là không chết.
Vì non sông Tổ Quốc nguyện hy sinh.
Dù có chết, chết vì dân vì nước.
Mãi hùng anh trong nòi giống uy linh.
Quân Ân thắng thế reo hò vang dậy, ào ào
xông tới tiêu diệt quân Văn Lang, quân Văn Lang như rắn mất đầu, hổn loạn bị
quân Ân tiêu diệt một cách dễ dàng.
Thảm thương con cháu Tiên Rồng.
Ngoại xâm tàn sát đau lòng biết bao.
Trời u tối một màng đêm đen
thẳm.
Lạc Cội Nguồn ôi thê thảm, thảm thê.
Kìa trước mắt đầy hố thẳm chông gai.
Cơ tạo hóa chuyển vần xoay nguy khốn.
Giặc lan tràn khó tránh khỏi kiếp
tai. Đây nói về Quan Tổng Chính trong lòng cứ mãi hồi hộp không yên, đang ra sức cùng binh lính cũng cố
trấn giữ Kinh Giao Châu. Thời có quân binh vào thông báo.
Bẩm Tướng Quân, quân ta đã thất
trận tại Huyện Giao Trung, quân Ân đang kéo tới, bao vây Kinh Châu Đông như
kiến. Quan tổng chính nghe báo cáo rụng rời cả tay chân, liền cùng các quan lên
thành xem coi, thời không khỏi thất kinh. Quân Ân kéo tới càng lúc càng đông
bao vây Kinh Giao Châu.
Quan Tổng Binh cùng các Quan, chỉ còn biết
cố thủ tới đâu hay tới đó.
*- Cùng lúc ấy, Xích Linh Giao Châu, đang chống trả với quân Hung Nô.
Đây nói về Xích Linh Giao Châu, Lạc Hầu
Vương nghe tin giặc Ân bao vây tấn công Kinh Đô,
thời trong lòng kinh hãi, đâu mà nhanh đến thế, nếu giặc chiếm được Kinh Đô
thời Bắc Văn Lang coi như đã thuộc về chúng.
Tức thời sai con là Lạc Hồng Hầu, thống lãnh một vạn quân nhanh chóng đến giải vây cứu
viện Kinh Đô, đi ngay trong đêm, khi đến
đồi Mục Linh đường đi rậm rạp lại có gió lớn, nghe như có quân mai phục, quả
đúng như vậy hai bên cây cối rậm rạp quân Ân mai phục, tên bắn ra như mưa, Lạc
Hồng Hầu thất kinh, vì sa vào ổ phục kích của giặc, lại sợ bị hỏa công bằng cho lui quân trở lại.
Bổng thấy đuốc lửa sáng ngời, quân reo dậy
đất, một tướng đi đầu mình cao sáu thước mặt đen hung dữ râu ria lồm xồm, viên
tướng ấy là ai? Còn ai nữa Hắc Quỉ một
tướng tài của quân Ân, Hắc Quỉ quát ta đợi ngươi ở đây đã lâu, mau cúi đầu chịu
trói, Lạc Hồng Hầu quát lên như sấm
nổ xông lên tử chiến với quân cướp nước, thế là quân Văn Lang ào ào xông tới
xáp chiến, gươm đao dậy trời
Trong phút chết, còn chi để mất.
Chí hùng anh trong phút chốc cũng vui.
Nào xông lên nầy hỡi anh em.
Đường quyết tử, ta xông lên quyết tử.
Kiếm đã gào thời quân thù phải ngả.
Nào tiến lên, nào quyết tử xông lên.
Trước khí thế đầy hào hùng của quân Văn Lang,
khó mà hạ Gục nhanh chóng cho được, hai bên đánh nhau tới sáng, quân Ân tuy chủ
động nhưng cũng không tiêu diệt hết nổi quân Văn Lang.
Lạc Hồng Hầu dẫn tàn quân lui về Xích
Linh Châu, hai vạn quân đã chết hơn phân nửa, Lạc Hồng Hầu mình mẩy đầy thương
tích, nói với Lạc Hầu Vương rằng
tình hình vô cùng nguy cập quân Ân, phục kích khắp mọi nơi, chúng phục kích
khắp các ngả đường chính yếu tiếp viện, khó mà cứu viện cho được.
Lạc Hầu Vương cũng hiểu rõ tình hình vô cùng
nghiêm trọng, nói con giữ được mạng sống là may rồi.
Lạc Hầu Vương,
lúc nào cũng lo lắng không yên chỉ
biết nhìn Bắc Văn Lang mất lần về tay giặc, nhất là từ khi
Lạc Hồng Hầu thất trận. Trong
lúc bàn bạc cùng các Quan,
Thời có quân vào báo.
Giặc Hung Nô đã chiếm lấy Quý Linh Giao Châu,
khói lửa ngập trời, chúng như những con quỉ dữ đi đến đâu thời chết chóc nhà
tan cửa nát đến đó, đàn bà con gái bị chúng hảm hiếp cho đến chết, gà chó cũng
không còn, vơ vét vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu, nói chung là không chừa một
thứ gì, kể cả lương thực.
*- Quân binh các Quận Huyện, không có sự liên kết,
như những đốm lửa nhỏ, nên bị quân Hung Nô dập tắc, quét sạch một cách dễ dàng,
tất cả đều thiệt mạng.
Lạc Hầu Vương than
mất đi văn hóa Cội Nguồn, là mất đi tất cả, tinh thần dân tộc bị suy sụp, dân
chúng bị văn hóa phương Bắc làm hại, đầu
độc, làm tan rả sự đoàn kết, chia năm xẻ bảy, tranh giành quyền lực thời tránh
sao khỏi ngoại xâm thôn tính. Hơn
nữa sự giàu có, đất đai trù phú của Bắc Văn Lang luôn luôn khơi dậy lòng tham
lam thèm khác của những tên bạo chúa, nhất là những tên tham vọng lớn hung sùng
ác sát phương Bắc, chúng dùng hết mưu kế nầy đến mưu kế khác, miễn sao chiếm
lấy được Bắc Văn Lang.
Sự lơ là mất cảnh giác đã dẫn đến hậu quả
sa vào kế sách của chúng, như cá nằm trong lưới, khó mà thót khỏi kiếp nạn, mong
gì bình ổn lại cho được.
Quân Ân, quân Hung Nô, quân Hồ, vốn quá
mạnh, lại có yêu tinh phò trì, không dễ đánh bại được chúng.
Chỉ còn chút hy vọng, là nhờ quân chủ lực
Văn Lang đến giải cứu, đẩy lui quân giặc, nhưng nào có thấy gì đâu,
Lạc Hầu Vương, chỉ
biết thở dài, chỉ còn biết tới đâu hay
tới đó. Đang lúc buồn rầu, thời có quân vào báo.
Bẩm Hầu Vương, quân Hung Nô đang ồ ạc tiến
về Xích Linh Giao Châu, tiến đánh
chúng ta.
Nghe quân báo tình thế mỗi lúc một nguy cơ
dồn dập,
Lạc Hầu Vương,
cùng các quan lên thành xem nhìn về
hướng Bắc thấy khói bụi mịt mù, quân Hung Nô chia nhau thành nhiều mũi tiến về
Xích Linh với thần tốc kinh người,
Đây nói về quân Hung Nô, như nhiều cơn lốc
kéo đến bao vây Xích Linh Giao Châu, chúng không tấn công ngay mà chỉ đóng trại
bao vây mà thôi.
Hung Nô Vương
tập hợp các tướng lãnh lại nói
rằng, chúng ta chưa thể tấn công chiếm
lấy Xích Linh Châu được đâu, vì Xích Linh Châu không phải như những Châu phiến
loạn, mà là những quan quân đầy lòng trung hiếu quyết bảo vệ Văn Lang.
Chúng ta sở dĩ chiếm lấy các Châu Thành,
cũng như hàng loạt Quận, Huyện, tiêu diệt hơn mười Vua Việt, là những vị Vua
nổi lên đòi tự trị, phản loạn, phản bội lại
nhà nước Văn Lang, đánh mất
có lòng trung thành đối với Tổ Quốc, tự mình đánh mất sự đoàn kết dân tộc, tôn
thờ văn hóa phương Bắc, nên chúng ta mới tiêu diệt chúng dễ dàng như vậy.
Còn đây là Xích Linh Châu, những Châu chưa
nổi lên đòi tự trị, xưng Vua, xưng Chúa, thời khó mà tiêu diệt nhanh chóng cho
được, phải có nhiều kế sách hay mới tiêu diệt được chúng, vì thế càng tiến sâu
vào đất Văn Lang chúng ta gặp nhiều khó khăn.
Các Tướng lĩnh Hung Nô tuy nghe Hung Nô Vương
nói thế, nhưng trong lòng thời xem thường quân Văn Lang.
Nói về Lạc Hầu Vương cùng các Quan Tướng thấy quân Hung Nô cờ xí rợp trời
từ các mũi lao tới bao vây cung thành đông như kiến, chúng không tấn công liền
mà chỉ đóng trại bao vây xung quanh cung thành, một ngày rồi đến hai ngày, nổi
lo lắng Lạc Hầu Vương đã hiện rõ trên sắc mặt, gầy đi thấy rõ, chưa tìm ra kế
sách gì để chống trả lại quân giặc chỉ biết ra quân cố thủ cung thành được ngày
nào hay ngày nấy.
Thấy các Quan cứ im lặng mãi, Lạc Kim Tiên nói theo lời xưa có kể lại
rằng, Quốc Tổ Vua Hùng là đấng Chí Tôn Thiên Đế đầu thai, con lớn của Đức Cha Trời,
yêu tinh quỉ dữ nhìn thấy uy danh của người đều khiếp sợ, Xích Linh Châu ta có
thờ chân dung của người, sao không cho người họa hình ra cũng như viết uy danh
của người lên cờ đem cắm lên những chỗ yếu điểm trong cung thành, thời may ra
chống đở được yêu tinh quỉ dữ.
Đến lúc nầy đâu còn cách nào hơn, là làm
theo lời của Lạc Kim Tiên.
Lạc Hầu Vương,
cho người họa hình Quốc Tổ, cũng như
viết lên uy danh Quốc Tổ trên những lá
cờ chính, cắm lên những nơi chính yếu quan trọng của cung thành.
Nói về quân Hung Nô đến ngày thứ ba, thời
các doanh trại đều chuyển động như có cuộc xáp chiến xảy ra, chúng duyệt binh
liên tục, khí thế hừng hực, những đoàn quân thiết kỵ của chúng chuyển động thần
tốc như đội quân ma quỉ, thấy mà rùng mình.
Biết có biến cố sắp xảy ra, các quan tướng
trong thành tập trung cao độ, cho tinh thần quyết tử, vì non sông Tổ Quốc mà hy
sinh.
Mặt Trời xuống núi không lâu, thành Xích Linh
chìm trong màng đêm u tối, trên bầu trời các vì sao lấp lánh lúc mờ lúc tỏ, bởi
những đám mây che khuất, nhưng cũng thấy được giặc Ân, giặc Hung Nô dẩm đạp lên
quê hương mang theo mùi máu tanh của lũ ác quỉ.
Chúa
Vương Hung Nô đang đọc Thần chú triệu yêu, ma quỉ dữ đến, rồi ra lịnh cho quỉ
dữ yêu ma, bay vào thành đánh phá quân Văn Lang, làm cho quân Văn Lang khiếp
đảm rối loạn, nhất là những quan binh trấn giữ cổng thành, lũ yêu tinh, ma,
quỉ, tuân lịnh rồi tức tốc bay vào thành xích linh, chúng làm phép trời đất tối
tăm mù mịt, cuồng phong nổi dậy ù ù cờ xí gãy sạch chỉ còn một số không hề hấn
gì.
Vương Quan binh lính kinh hồn
bạc vía, bóng ma bóng quỉ chập chờn khắp nơi, quân binh rối loạn, Lạc Hầu Vương, cùng các quan kinh khiếp,
thét lớn yêu tinh ma quỉ đã tấn công thành chúng ta bình tỉnh chống trả lại
chúng, trong lúc nguy cơ hổn loạn ấy, từ những cây cờ đề bốn chữ Chí Tôn Thượng Đế, cũng như những cây
cờ có treo hình Quốc Tổ, đồng loạt phát ra tia sáng, làm cho yêu tinh, quỉ ma,
tan biến hết thảy.
Bổng
bầu trời trở nên trong sáng, muôn vạn vì sao nhấp nháy, như che chở cho thành Xích
Linh.
Chúa Vương Hung Nô lấy làm kinh dị nói
chuyện gì xảy ra thế, chuyện gì xảy ra thế.
Đang lúc hoang mang, thời thấy một con quỉ
xuất hiện, run sợ nói có Thượng Đế che chở, có Thượng Đế che chở nói xong biến
mất.
Hung Nô
Vương tuyền lịnh không tấn công nữa, trời sáng tỏ, Hung Nô Vương cùng các
tướng lĩnh, nhìn lên thành thấy có một số cờ đề bốn chữ Chí Tôn Thượng Đế, cũng như
có một số cờ treo hình một người.
Các Tướng lĩnh Hung Nô nói ai mà có quyền
lực đến thế, Hung Nô Vương nói, còn ai nữa, đó là người khai lập dựng lên nước
Văn Lang.
Các Tướng lĩnh nói người chết đã hơn hai
nghìn năm mà còn oai linh như thế sao, Hung Nô Vương nói ta cũng không tin,
nhưng yêu tinh quỉ dữ khiếp sợ như vậy không tin cũng không được.
Một số Tướng lỉnh Hung Nô nói chỉ là hình
vẽ, với mấy chữ kia thời làm gì được chúng ta.
Chúa Hung Nô như tỉnh ngộ nói, các Tướng
nói đúng chỉ vài chục hình vẽ, với mấy chữ kia thời làm gì được chúng ta. Hung Nô Vương ra lịnh, bắt tất cả tù
binh làm thang giây, gôm hết tất cả dầu trong dân, cũng như dầu trong các châu
thành lấy được, những dụng cụ công phá thành chiếm được khắp nơi chuyển hết tới
đây, lấy vũ khí của địch giết địch.
Lạc Hầu Vương
cùng các Quan trên thành thấy quân
Hung Nô đang ra sức tạo ra khí cụ công thành thời kinh hãi, quân Hung Nô vốn đã
đông, lại biết xử dụng tù binh làm ra khí cụ công thành, thời biết ngày tận
cùng thành Xích Linh đã đến.
Cây
mất Gốc rũ cành héo ngọn.
Người mất Nguồn đại họa hung tin.
Nhà tan nước mất tan thương.
Thân tàn nô lệ còn chi cuộc đời.
*
* *
HỒI THỨ BẢY
KIẾP NẠN
Nói
về bách tộc Văn Lang có một số bộ lạc Bách Việt, hấp thụ theo văn hóa phương
Bắc, nổi lên đòi tự trị xưng Vua, xưng Chúa, không khác gì ở phương Bắc, chỉ
cần vài trăm nóc nhà thời xưng Vua, xưng Chúa tự trị một vùng.
Đây
chính là cơ hội cho phương Bắc chiếm lấy Bắc Văn Lang, một cách dễ dàng.
Quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, tràn qua chiếm
lấy Huyện Tây Bắc, Huyện Tây Trung, Huyện Hạ Tây, rồi chia nhau làm ba mũi đánh
chiếm Bắc Văn Lang.
Quân Hồ
đánh phía Tây Bắc Văn Lang, quân
Hung Nô tiến dọc theo biên giới Bắc Văn Lang thọc sâu xuống Đông Bắc Văn Lang,
rồi tiếng sâu vào đất Văn Lang.
Quân Ân tiến
theo trung lộ đánh thẳng vào Kinh Đô Bắc
Văn Lang, tức là Nam Kinh Xích Quỷ.
Quân Hồ khi tiến qua Huyện Tây Trung tiến đánh Phủ Tây Châu,
giết chết Vua Tây Việt chiếm lấy Hồ Châu,
giết chết Vua Man Việt, chiếm lấy Âu Sơn Châu , giết chết Vua Sơn Việt, những bộ lạc hùng mạnh Tây Bắc nổi
lên đòi tự trị xưng Vua, làm sao chống lại quân Hồ đành phải thiệt mạng, chết
thê chết thảm. Về sau có thơ rằng.
Cái dại nào hơn cái dại nầy.
Chia bè rẽ phái lợi gì đây?
Cấu xé giành nhau tranh quyền bá.
Ngoại xâm kéo đến nát tan thây.
Quân Hồ tràn qua Tây Bắc Văn Lang, tàn sát
chết chóc tan thương, gào thét làm mưa làm gió, những người yêu nước căm giận
vô cùng, đau buồn khôn tả, nhìn cảnh giặc cướp phá, giết chóc, hảm hiếp phụ nữ,
tàn hại trẻ con, những người còn sống, chúng bắt làm nô lệ, đánh đập dã man, trước
thảm cảnh nước mất nhà tan, đau đớn vô cùng.
Quân phiến loạn ra sức chống cự quân Hồ,
nhưng khác nào bầy dê xông vào bầy cọp, làm cho cọp béo mập thêm.
Quân Hồ tiến sâu vào Tây Bắc
Văn Lang như đi vào chỗ không người, chiếm hết Châu Phủ nầy đến Châu Phủ
khác, quân phiến loạn nổi lên đòi tự trị,
quỳ mạp sát đất dưới chân quân Hồ.
Sau
có thơ rằng:
Con cháu Tiên Rồng đó phải chăng.
Hay là lũ chuột, chỉ tranh ăn.
Chia năm xẻ bảy quên tuyền thống.
Hậu quả là đây, giặc nuốt ăn.
Nói đến chiến tranh xâm lược phương Bắc, không
chỉ xâm lược bằng binh hùng tướng mạnh, mà còn xâm lược bằng con đường họp tác
ngoại giao, toàn diện, xâm lược bằng con đường văn hóa, làm cho dân tộc Văn Lang
mê muội quên đi Nguồn Cội, quên đi truyền thống Anh Linh của cha ông, mắt vào
kế sách mưu gian của chúng, đến khi phát hiện thời không còn kịp nữa để mà
chống trả.
Về sau có thơ rằng.
Nhân tình thế thái vốn xưa nay.
Lầm mưu gian kế, giặc mưu bày.
Đến khi hiểu rõ thời đã muộn.
Nước mất nhà tan cảnh trắng tay.
Nói
về quân Hồ càng lúc càng tàn ác chúng lấy sạch, giết sạch, đốt sạch, chúng như
đàn quỉ dữ ăn thịt người, uống máu người, trước tình cảnh nầy ai mà không căm hờn,
đau lòng, xót dạ.
Về sau có thơ rằng.
Một lũ yêu tinh quá bạo tàn.
Giết người, hút máu, chúng ăn gan.
Con gái, đàn bà, ôi thê thảm.
Chúng vùi, chúng dập nát nát tan.
Đây nói về Kiến Giao Châu, có vị quan Trung
Chính, Châu Phủ, Châu An, ngày đêm đốc thúc binh lính cũng cố trấn giữ châu
thành, đang lúc hợp bàn cùng các Quan các Tướng, thời có quân vào báo.
Bẩm Thượng Quan quân Hồ đang kéo đến bao
vây Châu thành, Châu An cùng các
Quan lên thành thấy hướng Tây Bắc khói bụi mịt mù, chúng chia ra làm nhiều mũi
lao tới bao vây thành Kiến Giao, vó ngựa vang rền uy hiếp tinh thần đối thủ,
chúng như những đàn kiến mỗi đàn dài hơn mười dặm, uốn lượn, ngoằn ngoèo lúc thời
bung ra lúc thời nhỏ lại ai nhìn thấy cũng phải khiếp kinh.
Châu An có người con gái là Châu Tiên có học được pháp thuật, nên Châu Phủ An đặc hết niềm tin
vào người con gái nầy, may ra chống trả lại quân thù xâm lược.
Châu Tiên nói với cha, khi con còn học Đạo với thầy con nếu gặp
lúc vô cùng nguy cấp, thời lập đài tế lễ khấn vái Quốc Tổ, thời có thể tai qua
nạn khỏi.
Nghe lời con Châu An cho lập đài tế lễ sẳn,
khi cần thời lên đài tế lễ ngay.
Cùng lúc ấy quân Hồ kéo đến bao vây thành
Kiến Châu một lúc một đông, chúng không tấn công liền mà chỉ đóng trại bao vây.
Qua ba ngày sau từ doanh trại lớn của quân
Hồ, xuất hiện một tướng lĩnh dẩn theo chừng năm trăm quân tiến đến cổng thành
Kiến Châu, mở dọng hách dịch lớn lối nói rằng nầy Quan Hửu Chánh Châu An, mở cửa thành đầu hàng đi thời
ta tha cho con đường sống, bằng không con gà con chó cũng không còn, không bao
lâu nữa nước Văn Lang sẽ biến mất, ngươi không thấy sao Bắc Văn Lang mất rồi chỉ còn thành Kiến Châu nhỏ bé, ta
chỉ cần ra tay thành Kiến Châu sẽ trở thành bình địa.
Đến giờ nầy mà con cháu Tiên Rồng gì nữa, con
giun thì có, mau mở cửa thành đầu hàng đi.
Châu An cùng các Tướng tức giận đến muốn vỡ lồng ngực, nhất là
Châu Tiên.
Châu Tiên nói cha cho con ra trận giết quách thằng khốn nạn kia
cho hả cơn tức giận, làm cho quân Hồ khiếp vía mà rút lui.
Châu An biết con gái mình võ nghệ cao
cường, pháp thuật cao siêu, nhưng đối thủ là Tướng nam khó mà đối địch, Châu Tiên
biết ý cha, cha yên tâm con biết tự lượng sức mình, Châu An cực chẳng đã mới để
Châu Tiên ra trận,
cổng thành vừa mở một nữ
Tướng mắt Phụng, mày ngài, mặt hoa, da phấn, lưng ong, ngực nở, không cần mặt
áo giáp gì cả, xinh đẹp mãnh mai, như Tiên giáng trần,
tướng giặc vừa thấy như bị hút
hồn, bỡi sắc đẹp chim sa cá lặng.
Châu
Tiên, thấy Tướng giặc ngơ ngác như bị hút hồn, thời quát lớn, quân cướp
nước kia đã gặp ta thời hết con đường sống, mau xuống ngựa chịu trói, nghe
tiếng quát Tướng giặc liền tỉnh hồn.
Với con mắt thèm khác, nhìn Châu Tiên chầm
chầm như muốn ăn tươi nuốt sống, Tướng giặc thốt đẹp quá đẹp quá ta chưa từng
thấy bao giờ, bắt sống về làm đồ chơi, nói xong tướng giặc thúc ngựa lao tới chém
một đao, nhanh
như tia chớp, chụp bắt Châu Tiên,
không ngờ Châu Tiên biến mất, một tia chớp nổi lên, Tướng giặc kinh hoàng nhưng
không còn kịp nữa, bị Châu Tiên chém rụng mất cánh tay, khiếp đảm quày ngựa bỏ
chạy.
Châu Tiên quát
chạy đâu cho thoát, tức thời Tiên Kiếm phóng theo một tiếng rú thê thảm Tướng
giặc bỏ mạng.
Kết cuộc xâm lăng mạng đi đời.
Bỏ mạng sa trường thảm ghê nơi.
Tham tàn bạo ác đời là thế.
Trận địa vùi chôn xát thân phơi.
Quân Văn Lang thắng thế ào ào xông lên
đánh quân Hồ tơi tả, sợ con sa vào bẫy giặc bằng cho người đánh trống thu quân.
Nói về Hồ Nghi Vương, đứng trên vọng đài thấy con là Hồ Bá Thi chết thê
thảm, tức quá hét lên mau bắt tên yêu nữ kia cho ta.
Hồ Mị Hoa, nói để con bằng phi thân xuống đài cỡi con Thần mã
Bạch Long Câu, phi nhanh ra trận địa, Châu Tiên định tới chặt đầu Tướng giặc,
thời nghe tiếng trống thâu quân, liền quay đầu ngựa trở lại.
Bổng
nghe trên không có tiếng quát nạp mạng đi tức
thời một luồng kình phong ập
xuống, nhanh như chớp Châu Tiên thúc
ngựa né tránh, ầm ầm hai luồng chưởng đánh xuống không trúng Châu Tiên tạo hai
cái hố. Châu
Tiên thấy người đánh mình là một nữ Tướng xinh đẹp, tuổi xấp xỉ nhau không hơn
không kém, Châu Tiên quát ngươi là ai sao đánh lén ta.
Tướng nữ xuất hiện quát, ta sợ gì ngươi mà
đánh lén, Châu Tiên quát, quân xâm
lược kia tên họ là chi, mau rút quân về Bắc thời ta tha cho tội chết.
Hồ Mị Hoa nói ngươi không xứng đáng hỏi tên ta, nói xong cô ta thúc ngựa lao tới thanh
kiếm trên tay như Rồng bay Phụng múa, chém tới nhanh như tia chớp.
Châu Tiên nào chịu thua kém, đôi kiếm trên tay như mưa sa bão
táp, dồn dập tấn công liên miên, cánh Phụng tung bay phất phới, quần nhau càng
lúc càng nhanh, kiếm qua kiếm lại rền vang trận địa.
Đúng là:
Một bên bão táp mưa sa.
Một
bên dông tố cuồng phong ầm ầm.
Đánh nhau cát bụi mịt mù.
Đánh
nhau núi lở nghiêng đồi khiếp kinh.
Châu
Tiên hóa phép liên miên.
Sấm
rền trời đất, gươm Thiên khắp đầy.
Mị Hoa
càng đánh càng hay.
Vung
tay trời đất tối thui mịt mùng.
Yêu tinh xuất hiện trùng trùng.
Thét
gào nhứt óc đùng đùng tấn công.
Châu
Tiên biết đánh không xong.
Hóa
ra một trận cuồng phong chạy dài.
Thâu
quân trở lại cung thành.
Ngày
đêm cố thủ chờ thời chuyển xây.
Nói
về Châu Tiên thấy yêu nữ quân giặc
vô cùng lợi hại, khó mà đánh thắng được, bằng lui quân vào thành cố thủ, quân
giặc đến khiêu chiến không ra nữa. Châu An cùng các Tướng lĩnh thấy quân Hồ
như có điều chi khác lạ hình như là chuẩn bị cho sự tấn công quy mô, Tướng lĩnh
Cao Khang nói tối nay nhất định quân
Hồ tấn công Châu Thành ta, Châu Tiên cũng
nghĩ như thế, nói với Châu An, cha hảy cho quân binh chủ động biết trước tối nay
tử chiến với chúng.
Quả đúng không sai bên vọng đài quân Hồ,
đang tế lễ
Hồ Nghi Vương, làm
phép triệu tập yêu tinh, quỉ dữ, hàng trăm hàng nghìn, tối nay bay lên thành
gây rối loạn quân binh, thời tức tốc đồng loạt tấn công chiếm lấy Châu Thành, vì
đã chửng bị trước Châu Tiên ngửi có
mùi yêu khí liền nói với cha hãy mau lên đài tế lễ cầu nguyện Anh Linh Đức Quốc
Tổ, không còn chần chờ gì nữa.
Bổng thấy trời đất tối mù tối mịt, cuồng
phong nổi dậy ầm ầm, quân binh đốt lửa không được, cờ xí gãy đổ, lại nghe rào
rào dưới chân thành, quan binh la hoảng quân Hồ leo tường tấn công, đốt lửa lên
không được vì cuồng phong quá lớn, tiếng binh khí đã bắt đầu chạm nhau.
Châu An bình tỉnh cầu nguyện Anh Linh Quốc Tổ, chiến trận đã
nổ dòn, bổng trên hư không sấm sét nổi lên đánh xuống ầm ầm mây tan, gió tạnh,
yêu tinh quỉ dữ, tan biến không còn, Quan quân đốt lửa sáng rực trời, thấy quân
Hồ leo tường lớp lớp bằng ném đá, bắn tên, đổ dầu, phá hỏng các thang dây, quân
Văn Lang chiến đấu anh dũng lợi thế có cung thành, một người có thể hạ gục năm
mười tên, quân hồ chết thôi là chết, đánh tới sáng quân Hồ thiệt hại vô kể, quân
Văn Lang thắng trận vẻ vang.
Từ đó quân Hồ biết khó nuốt thành Kiến Châu, chỉ còn
cách là bao vây, cho quân binh trong thành kiệt huệ lương thực rồi mới ra tay, chúng
tản ra vơ vét của cải dân chúng, cắt đứt các ngã đường cứu viện tiếp viện
* * *
PHẦN
9
HỒI
THỨ TÁM
Cha ông trở lại cõi trần.
Cứu con cứu cháu thoát vòng tai ương.
Miễn sao con cháu đừng quên.
Cội Nguồn nhớ mãi hiển Linh đời đời.
Đây nói về trên tần trời thứ hai, Đông Nam Thiên Cung, có vị Thiên Đế Ngọc Long, đã từng đầu thai xuống trần
mở ra thời đại Kinh Dương Vương, lập lên
nước Xích Quỷ, Giao Chỉ, câu chuyện như sau.
*- Tiểu kiếp thứ 8 kết thúc, những người còn
sống sót, trở thành thỉ tổ Hồng Hoang, đầu
tiểu kiếp thứ 9, kiếp tăng, tuổi thọ thỉ tổ Hồng Hoang rất ngắn, trung bình chỉ
10 tuổi, thọ 20 tuổi, đại thọ 30 tuổi, yểu 1 tuổi.
Cứ 100 năm tăng lên 1 tuổi, và tăng mãi
cho đến khi tuổi thọ trung bình là 8 muôn 4 nghìn tuổi.
Trải qua 8 triệu 4 trăm nghìn năm, tức là
hết kiếp tăng đầu kiếp giảm, chuyển sang
giai đoạn Hồng Bàng, và cứ 100 năm giảm xuống 1 tuổi, và giảm mãi xuống
nhân loại con người tuổi thọ trung bình chỉ còn 30 nghìn tuổi, thời chuyển sang giai đoạn Hồng Chúa.
Nhân loại con người tuổi thọ tiếp tục giảm
xuống chỉ còn 10 nghìn tuổi, thời chuyển
sang giai đoạn Hồng Đế, và giảm xuống tuổi thọ nhân loại trung bình chỉ còn
1 nghìn tuổi, thời đi vào giai đoạn cuối
thời Hồng Đế,
(( giai đoạn Hồng Chúa, Hồng
Đế, đều nằm trong niên đại Hồng Bàng. ))
Giai đoạn cuối thời Hồng Đế kéo dài hàng
chục nghìn năm. Đến thời Hồng Đế cuối
cùng hạ sanh quí tử, khôi ngô tuấn tú, lớn lên thông minh, tài trí khác phàm,
tên là Hồng Viêm, vì lúc Hồng Nương sắp sanh quý tử, liền thấy
Thiên Thần đến lễ bái nói, Viêm Đế Thần Nông đầu thai xuống trần, mở ra thời
đại mới, các Thiên Thần nói xong rồi biến mất. Hồng Nương sanh ra quý tử, Hồng
Chúa liền đặc tên cho con là Hồng Viêm.
Hồng Viêm càng lớn càng thông minh kỳ lạ, trở thành
Nhà Bác Học nông nghiệp, đầu
tiên của niên đại Hồng Bàng, có công
tôm gốp những giống lúa hoang dại ( hay còn gọi là cỏ Trời) mọc theo đầm lầy,
giống ngô khoai hoang dại mọc nơi đồi rừng. Lai tạo ra nhiều giống lúa thuần
chủng, giống ngô khoai thuần chủng, cho năng xuất cao. Mở ra thời đại mới, thời
đại văn minh của nền lúa nước, nông nghiệp ngô khoai. Đem lại sự no cơm ấm áo
cho con người.
*- Khi lên ngôi thay cha Hồng Viêm đổi niên hiệu, từ niên hiệu Hồng Đế, chuyển sang niên hiệu VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG, Quốc Tổ VIÊM ĐẾ THẦN
NÔNG Truyền xuống được 5 đời, tới đời thứ năm Viêm Đế Thần Nông.
Đế Nương, một
hôm ngủ say trong giất chiêm bao, thấy một con Rồng to lớn, bay tới gần bà rồi biến
mất, sau đó thời mang thai. Đến ngày khai hoa nở nhị, thời trên bầu trời mây
đen cuồn cuộn, hiện ra mây Rồng rồi mưa xuống một trận lớn, làm cho lúa ngô,
khoai sắn, tươi tốt. Nên Viêm Đế Thần Nông đời thứ năm, đặc tên cho con là Đế Tôn Long Đế, Đế Tôn Long Đế, càng
lớn càng khôi ngô tuấn tú, dũng mãnh phi thường, có sức mạnh dời non lấp biển, khai
phá đất đai rộng mở, đem lại sự phồn thịnh no cơm ấm áo cho người dân, dân chúng
sùng kính vô cùng, lực lãm không ai bằng, nên dân chúng thường gọi Đế Tôn Long
Đế là Đức Sùng Lãm.
Đế Tôn Long Đế, Đức Sùng Lãm, lên ngôi thay cha trị vì thiên hạ, liền đổi niên hiệu.
Từ niên hiệu Viêm Đế Thần Nông, chuyển sang niên hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG, Quốc Tổ KINH
DƯƠNG VƯƠNG, truyền xuống được chín đời.
Đến đời Kinh Dương Vương, đời thứ 9.
Sau một chuyến tuần du nơi
động Đình Hồ Kinh Dương Vương gặp Thần Long Nữ, Bộ Lạc Long Giao. Kết
duyên phu phụ, thành vợ thành chồng.
Một hôm Thần Long Nữ trong lúc mơ màng thấy chốn nhân gian mây đen cuồn
cuộn yêu tinh quỷ dữ đầy trời, nhân loại
lầm than khốn đốn, mất đi quyền sống, quyền tự do, quyền công bằng, quyền bình
đẳng, ngục tù cùng khắp, cực hình thê thảm vô cùng. Đang trong lúc kinh hoàng
sợ hãi, thời thấy một vị Chí Tôn Thiên Đế xuất hiện, tay cầm Thiên Ấn, tay cầm
Thiên Bút, Thiên Bút biến mất, Thiên Ấn hóa thành Gươm Thiên Trí Huệ, phát ra
ba đạo hào quang.
Mỗi lần Gươm Thiên Trí Huệ vung lên, tức
thời hàng loạt tiếng sấm nổi lên, vô số mặt trời hiện ra, yêu, tinh, quỉ dữ
liền tan biến hết, bóng đêm chẳng còn, trời quang mây tạnh, muôn hoa đua nở,
mùa xuân phơi phới, thái bình an lạc. Thần Long Nữ đem việc thấy kỳ lạ đó kể
cho Kinh Dương Vương nghe, từ đó Thần Long Nữ mang thai.
Đến ngày khai hoa nở nhị, thời hoa lan
khắp nơi đều nở rộ, hương thơm khắp cả nước non, cọng thêm với điềm chiêm bao
của Thần Long Nữ, một đấng anh hùng cái thế, nên đặc tên cho con là Hùng Lan.
Hùng Lan, lớn lên không những khôi ngô tuấn tú, mà Đạo Đức, trí
huệ, có một không hai, có bốn Đức tính nổi bật mà ai cũng thấy, bốn Đức tính đó
là hùng- bi- trí- Đức, với bốn Đức tính nầy, tuy còn nhỏ nhưng
đã vang danh thiên hạ.
Khi Hùng Lan,
lên ngôi trị vì thiên hạ thay cha, liền chuyển niên hiệu.
Từ niên
hiệu KINH DƯƠNG VƯƠNG. Chuyển sang niên hiệu HÙNG VƯƠNG, Niên đại HỒNG
BÀNG, chuyển sang niên đại ÂU LẠC, đổi
tên nước từ nước XÍCH QUỶ, thành nước VĂN LANG.
Mở màng văn
hóa Cội Nguồn ra đời, trở thành nền Quốc Đạo đầu tiên của nhân loại.
Giai
đoạn ĐỒNG BÀO, đoàn kết thống nhất, một
100 bộ lạc đều lấy chung một chữ VIỆT, gọi là Bách Việt, dân tộc Siêu Việt Anh
Linh, nòi giống Rồng Tiên ra đời, nòi giống con Trời, thừa kế cơ nghiệp tạo hóa
cha ông.
*- Sau cuộc giao tranh với quân ÂU LẠC Đế Lai, Đế Nghi, Đế Minh, thua trận rút
lui về phương Bắc bên kia sông Trường Giang,
Con gái của Đế Lai, là Đế Cơ Công Chúa, sắc
nước hương trời, lại thêm pháp thuật thần thông cao cường, chăng tằm dệt vải đều thông giỏi, tài Đức,
công- dung- ngôn- hạnh, có một không hai chốn nhân gian.
*- Đế Cơ
Công Chúa, phi ngựa qua sông Trường Giang thả mình vân du, lạc đến động
Lăng Xương, xem hoa dạo cảnh.
Tạo
hóa xe duyên, gặp lúc Vua Hùng cũng đang vân du chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên
nhiên hùng vĩ, tạo hóa an bày hai người gặp nhau, rồi yêu nhau kết thành phu
phụ, nên duyên chồng vợ. Về chung sống ở Phong Châu Nghĩa Lĩnh, Kinh Đô Văn
Lang. *- Từ đó Nam Bắc sông Trường Giang, hai phương
giao hòa Âu ca thịnh trị.
Quốc
Tổ Hùng Vương, cùng Quốc Mẫu ăn ở ít lâu, sanh con đẻ cái, lập
trưởng nam kế tục ngôi Vương, truyền xuống được 23 đời, gọi đó là thượng Hùng Vương.
Hùng Vương đời thứ 23 không con, nên
nhường ngôi cho con của em, là cháu dòng thứ Hùng Cừ, truyền xuống được 18 đời,
gọi đó là hạ Hùng Vương.
*- Vua Hùng Vương thứ 18 có con trai nhưng chết
yểu lúc còn nhỏ, thành ra không có con trai kế vị.
Nên nhường ngôi cho con rễ là Nguyển Tuấn,
( tức là Tản Viên ).
*- Thục Phán
là cháu thứ của Vua Hùng, làm Lạc Tướng ở Bộ Tây Vu Ai Lao, đem quân về
tranh ngôi, Vua Hùng sợ máu thịt anh em tương tàn, nên đành nhường ngôi lại cho
Thục Phán.
Tản Viên, là Chúa của núi rừng, dẫn
theo Mị Nương công chúa Ngọc Hoa, về
núi sanh sống.
*- Khi Thục
Phán lên ngôi Vương, thời niên đại Hùng
Vương, kéo dài 2701 năm kết thúc.
Thục Phán lên ngôi Vương, chuyển đổi niên
hiệu Hùng Vương, thành niên hiệu An
Dương Vương. Chuyển đổi tên nước Văn Lang , thành nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ
Loa. Trị vì thiên hạ trên dưới 50 năm kết thúc thời Âu Lạc 258 trước công
nguyên.
Kể từ đây con cháu Tiên Rồng, như đi trong
đêm, dẫn đến nô lệ phương Bắc, nước Văn Lang chỉ còn có một phần, Nam Văn Lang,
còn Trung Văn Lang Bắc Văn Lang, thời đã thuộc về phương Bắc, chỉ còn Nam Văn Lang mà sống cũng không yên, bị phương
Bắc đô hộ xâm lược hết thời nầy sang thời khác, hầu nuốt trọn nước Văn Lang, nhưng nuốt mãi không được, vì Nam Văn Lang là
đất Địa Linh, Địa Long Vũ Trụ, và kỳ tích xảy ra trên mảnh đất Địa Linh nầy.
* * *
Đây
nói về trên tần Trời thứ hai, Đông Nam
Thiên Cung, có vị Thiên Đế Ngọc Long,
đã từng đầu thai xuống trần, mở ra thời đại Kinh Dương Vương, khai lập lên nước Xích Quỷ. Giao Chỉ, QUỐC TỔ KINH DƯƠNG VƯƠNG, Quốc Tổ Kinh Dương Vương, quy Tiên, bỏ lại
xác phàm về Trời, ở Đông Nam Thiên Cung.
Vì thương con dân nơi chốn trần gian, nên
Quốc Tổ thường hiện về, dân chúng thường thấy trên bầu trời mây đen hình Rồng
xuất hiện, thời những trận mưa trái mùa đổ xuống làm cho cây cối xanh tốt,
ruộng nương trúng mùa. Những năm mây đen
hình Rồng xuất hiện, là dân chúng no cơm ấm áo, chuyện kỳ lạ nầy thường xảy ra
trên đất nước Văn Lang.
Ở thời hạ Hùng Vương đời thứ 5, Hùng Hy Vương, ( Viên Lang ) dân chúng thấy hồn Quốc Tổ
Kinh Dương Vương, hiện về, xuất hiện
mây ông khổng lồ, dấu chân ông bước tới đâu là in đến đó. Đám mây hiện hình
người khổng lồ to lớn đó, thường xuất hiện nhiều nhất trên đất Đổng, nên dân
chúng gọi là ông Đổng, hồn Tổ Tiên hiện về.
Có lần dân chúng thấy hồn
Quốc Tổ Kinh Dương Vương,
Long Đế Sùng Lãm, hiện về, hiện thành đám mây ông Đổng cao lớn vô cùng, đầu đội trời,
chân đạp đất, cao hơn mười ngọn núi, chỉ trong
một đêm mưa to gió lớn, ông cào đất thành ruộng, ông vun đất thành đồi,
xẻ đất thành sông, bước chân ông dài từ đỉnh núi nầy sang đỉnh núi khác, dấu
chân ông thủng cả đá, thủng cả đất, tiếng nói ông chính là sấm, mắt ông chớp
lòa, phóng ra tia lửa, sét, hơi thở ông phun ra mây đen, gió bão và mưa dông. Linh Hồn Quốc Tổ, Long Đế Sùng Lãm, thường
xuất hiện trong những mùa hè nắng hạn, dân chúng cần nước, tưới cho ngô, khoai,
lúa, đậu, ông đi lúc xoáy tròn, lúc đi thẳng, đi hết nơi nầy đến nơi khác, từ
Đông sang Tây.
Ngày nay vẩn còn thấy dấu chân Long Đế Sùng Lãm,
còn in lại khắp nơi.
*- Nói về Long Đế Sùng Lãm, Quốc Tổ, đang ngự tại
cung Đông Nam Thiên, ở trên Trời. Bổng có một trận gió lạ, thời biết là Thiên Ý
Cha Trời chỉ giáo điều gì, liền co tay bấm ấn, mở con mắt Thiên Nhãn nhìn xuống
chốn nhân gian, thời thấy rõ nước Văn Lang đang lâm nạn, nguy cơ đến nơi. Khí số Văn Lang vẩn còn chưa mất,
vẩn còn kéo dài hơn mấy trăm năm nữa. Liền triệu tập Thiên Tướng, nói rõ nguy cơ nước Văn Lang. Long Đế nói. Khí số Văn Lang còn
dài hơn mấy trăm năm nữa, chúng ta hãy
đầu thai xuống chốn trần gian, đánh lũ giặc Ân, đi ngược lại Ý Trời, làm hại
đất nước Văn Lang, các Thiên Tướng mở con mắt Thiên Nhãn đều thấy rõ như thế,
nguy cơ nước Văn Lang sắp mất đến nơi.
*- Các Thiên Tướng cùng Long Đế, tức tốc xuất hồn ra khỏi thể xác kim thân, linh hồn bay
xuống chốn trần gian đầu thai làm người phàm tục, đánh giặc Ân.
HỒI THỨ CHÍN
BÀY MƯU HIẾN KẾ
Đây nói về hai anh em Nguyên Dực và Nguyên Minh, thống
lãnh 40 vạn quân, tiến về Bắc Văn Lang dẹp nội loạn nổi lên đòi tự trị làm hổn
loạn Bắc Văn Lang, cũng như chống trả lại quân xâm lược.
*- Khi 40
vạn quân chủ lực Văn Lang đến Vân Châu, thời chia làm hai lực lượng.
Nguyên Dực thống
lãnh 20 vạn quân tiến thẳng về Ninh
Châu.
Còn Nguyên Minh thống lãnh 20 vạn quân tiến thẳng về Hợp
Châu.
*- Nói về
Ninh Giao Châu, có Quan Châu Phủ Lạc Đại Vương, cùng các Quan trấn giữ
Châu Thành.
Ngày
nào cũng có tin báo dập dồn khẩn cấp, quân Ân đã tiến đánh Kinh Giao Châu, tiêu diệt hơn một vạn quân
Văn Lang ở Huyện Giao Trung, Lạc Đô Tướng bỏ mạng tại sa trường, và
đã chiếm được thành Kinh Châu.
Lạc Đại Vương cùng các Quan không khỏi kinh hãi, lo lắng cho số phận
Ninh Châu, than rằng.
Chỉ lo chạy chọt Quan quyền.
Ăn chơi phè phởn đảo điên nước nhà.
Đến khi có giặc can qua.
Co đầu rụt cổ còn ra thống gì.
Lòng dân đã mất chí nguy.
Cơ đồ sự nghiệp khó mong vững bền.
Lạc Đại Vương,
cùng các Quan đến bây giờ mới thấm
thía.
Dân là
nước, nước ô nhiễm độc hại văn hóa phương Bắc, thời cá phải chết.
Dân là gốc,
nhưng gốc đã mục nát, dân tình trở nên loạn lạc, thời thân cành, nhánh lá Vương
Quan cũng đi đời, nhưng tất cả đều đã muộn.
Chỉ còn
trông chờ cứu tinh xuất hiện, thời may ra vận nước mới thoát qua cơn hiểm họa
nầy.
Lạc Đại Vương
cùng các Quan chưa biết xoay trở bằng
cách nào, chửng bị cho tình huấn xấu nhất.
Thời có quân vào báo.
Bẩm
Đại Vương, quân chủ lực Văn Lang đã đến, Lạc
Đại Vương cùng các Quan mừng quá, thốt lên cứu tinh đã đến rồi, Lạc Đại Vương
hỏi quân chủ lực đến đâu rồi?
Quân binh đáp, quân chủ lực
còn cách đây vài ba dặm,
Lạc Đại Vương cùng
các Quan ra khỏi thành tiếp đón quân chủ lực Văn Lang.
Đi
được hơn năm dặm thời thấy quân Văn Lang cờ xí rợp trời, gươm đao sáng giới, kỵ
binh, xa binh, xạ binh, giáp binh, rầm rầm rộ rộ khói bụi mịt mù, khí thế hừng
hực, thời lấy làm vui sướng, như người
sắp chết đuối mà gặp Cứu Tinh.
Đi đầu có rất nhiều Tướng lĩnh, mỗi người
mỗi vẻ oai phong lẩm lẩm, có một Tướng lĩnh nổi trội hơn hết, mặt sáng như sao,
vô cùng oai phong, đó là Tướng soái Nguyên
Dực. Nguyên Dực thấy Lạc Đại Vương cùng các Quan đến tiếp đón mình, thời
lấy làm vừa lòng.
Lạc Đại Vương
cùng các Tướng đến ra mắt thi lễ chào
hỏi nói rằng.
Hạ Quan nghinh tiếp hơi trể xin Tướng Soái
tha lỗi cho,
Nguyên Dực thi
lễ nói không sao không sao, miễn có ra đón là được rồi.
Lạc Đại Vương đi đầu dẫn đường gần đến Ninh Thành thời đại quân dừng lại đóng
trại gần đó, cách Ninh Thành hơn dặm.
Tướng Soái
Nguyên Dực cùng các Tướng, được Lạc
Đại Vương tiếp đón vào thành, thiết đải trọng hậu, đàn ca múa hát, món ngon vật
lạ, chẳng thiếu thứ chi.
Nguyên
Dực thưởng thức các món ngon vật lạ khen,
tiếng đồn quả không sai Bắc Văn Lang thứ gì cũng có, thảo nào quân giặc thèm khác lúc nào cũng
muốn chiếm lấy Bắc Văn Lang.
Lạc
Đại Vương nói, lời nói của Tướng Soái quả không sai, đây chỉ là đặc sản của
vùng Ninh Châu nầy, còn những nơi khác phải nói là vô cùng phong phú, nhất là
vùng lân cận Kinh Đô, thời phải nói là trù phú vô cùng, không có món ngon vật
lạ hiếm quý nào mà không có, kể cả chim trĩ trắng, gà chín cựa, sâm nghìn năm, chồn
hương chín đuôi, còn không biết bao nhiêu là món ngon hiếm quý nữa.
Tiệc
đải xong xuôi qua ngày hôm sau, Nguyên Dực cùng các Tướng nghe báo cáo tình
hình Bắc Văn Lang, cũng như tình hình quân xâm lược.
Lạc Đại Vương
đọc bản báo cáo, trong bản báo cáo
nói như sau.
Bẩm Tướng Soái: tình hình Bắc Văn Lang vô
cùng nghiêm trọng, không những nghiêm trọng về nội loạn, các Bộ Lạc Bách Việt
nổi lên đòi tự trị, vì thế Bắc Văn Lang chia năm xẻ bảy tranh giành quyền lực
dẫn đến thôn tính lẩn nhau, xưng Vua, xưng Chúa, từng vùng tự trị theo kiểu
phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn nóc nhà cũng xưng Vua.
Có thể nói văn hóa phương Bắc đã làm hại
phương Nam chúng ta, tình thế nầy khó mà cứu vãn cho được, nghe nói văn hóa Văn Lang chúng ta đã mất
gốc, lại không truyền xuống dân, chỉ truyền trong Vương Quan, thừa kế cơ nghiệp
ông cha, nên dân chúng ít người được biết về văn hóa Cội Nguồn, nếu dân biết
thời còn tai hại hơn nữa.
Vì
văn hóa Cội Nguồn không có sự độc tài, độc trị,
chỉ lấy, Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, công bằng bình đẳng trị Quốc mà
thôi, phải nói không còn phù hợp với tình hình hiện nay, mà tình hình hiện nay
là sống theo chế độ độc quyền, độc tài, độc trị, ý Vua là ý Trời, không ai dám
cải, cải lại thời bị tru di tam tộc, còn
phương Bắc tru di cửu tộc. Thể chế độc quyền lần lần ăn sâu vào tâm hồn, không
những Vua, Quan, như chúng tôi, mà còn ngay cả những người dân, không còn cách
nào khác là thuận theo số phận mà thôi.
Phương Nam
chúng ta dần dần đi theo chiều hướng phương Bắc, nên mới có cảnh Bách Việt Văn
Lang nổi lên đòi tự trị, theo xu thế phương Bắc, còn Nam Văn Lang thời chưa xảy
ra điều đó, có lẽ là chưa ảnh hưởng gì văn hóa tự trị phương Bắc, nên chưa có
sự nội loạn
Tình hình dân chúng phương Bắc Văn Lang là như thế,
Còn về tình hình cấp bách hiện nay.
Trước tình
thế quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô, chúng càn qua Bắc Văn Lang như thác đổ, với
một thời gian ngắn, chúng nuốt không biết bao nhiêu là Châu, Quận, Huyện, giết
chết hơn mười mấy Vua Việt nổi lên đòi tự trị, Nguyên Dực cắt ngang lời báo cáo
nói.
*- Đây cũng là
điều may cho chúng ta, ngoại xâm tiêu diệt nội loạn thay cho chúng ta, chúng ta
không cần ra tay, kể như chúng ta đã thành công ở bước một, Nguyên Dực nói ông đọc tiếp đi.
Lạc Đại Vương
với giọng rõ ràng đọc tiếp báo cáo rằng, Theo tin tức báo cáo.
Quân Hồ,
quân Ân, quân Hung Nô, chia làm ba mũi tấn công Bắc Văn Lang, quân Hồ đánh theo
Tây Lộ, quân Hung Nô đánh theo Đông Lộ,
quân Ân đánh theo Trung Lộ, trong ba thế
lực ấy quân Ân là mạnh nhất,
Tuy chia làm ba mũi nhưng chúng luôn luôn hổ trợ cho
nhau lúc cần thiết, vì thế chúng đánh chiếm các Châu Phủ một cách dễ dàng.
Theo tin
báo thời giặc Ân đang bao vây Kinh Đô, giặc Hung Nô đang đánh phá Xích Linh
Châu.
Quân Hồ
đang đánh phá Kiến Châu.
Quân Ân
phong tỏa cắt đứt những huyết mạch các
Châu Thành liên kết với Kinh Đô.
Phải nói
tình hình hết sức là nguy cấp nếu chúng chiếm được Kinh Đô, chiếm được Xích
Linh Giao Châu, chiếm được Kinh Châu, thời coi như chúng chiếm được Bắc Văn
Lang, đọc xong bản báo cáo.
Lạc Đại Vương nói thêm, như tin dò thám được thời Kinh
Châu đã thất thủ. Nguyên Dực, cũng
như các Tướng chủ lực quân Văn Lang nghe qua bản báo cáo như thế thời không
khỏi lấy làm kinh hãi. Trước sức mạnh như vũ bão của quân xâm lược.
Đời sau thơ kể lại rằng.
Sức mạnh quân thù thật gớm ghê.
Như cơn Hồng thủy cuộn tràn về.
Thành trì sụp đổ trong chốc lác.
Sanh Linh vùi dập thật thảm thê.
Đang lúc bàn về quân giặc, thời có quân
thám báo về báo Nói nhỏ với Lạc Đại Vương. Lạc Đại Vương nghe xong rồi dặn tiếp
tục theo dõi động tỉnh của quân Ân.
Nguyên Dực hỏi có chuyện gì thế có thể đem ra bàn được
không?
Lạc Vương nói có tin báo là quân Ân tiến
đánh thành Ninh Châu chúng ta, tin rất chính xác.
Nguyên Dực hỏi, quân Ân chúng
sẽ đi theo đường nào tiến đánh Ninh Châu chúng ta.
Lạc Đại Vương nói, Kinh Châu đến Ninh Châu
hơn 100 dặm qua sông, suối, đồi, gò cũng nhiều, đường đi qua nhiều khúc quanh
rậm rạp.
Theo nhận xét của Đại Vương tôi, với khí
thế mạnh như vũ bão của giặc thời giặc không sợ gì cả, đường nào gần nhất dễ đi
nhất là chúng đi.
Tôi tin chắc là quân Ân đi theo đường tắc
dễ đi nhất, chỉ có một đoạn đường hiểm yếu, đó là chúng phải băng qua cánh đồng
lớn, rồi đến đồi Vạn Lâm, đồi nầy kéo dài hơn 10 dặm cây cối rậm rạp, đồi Vạn Lâm
cách đây gần 50 dặm, nếu chúng qua khỏi đồi Vạn Lâm thời không đầy một ngày đại
binh chúng sẽ kéo đến, còn kỵ binh thì chỉ cần một ngày là đến nơi.
Nguyên Dực hỏi quân binh trong thành nầy được bao nhiêu?
Lạc Đại Vương
thưa, bẩm Tướng Soái hiện giờ hơn một
vạn quân, phần nhiều do quân binh các Châu Phủ khác thua trận chạy đến đây.
Từ đầu đến cuối cuộc hợp, có một vị quan
lúc nào cũng yên lặng, đó là Hầu Thái Công,
tuy tuổi đã lớn nhưng được gọi là bậc mưu Thần bậc nhất ở Ninh Châu.
Đến lúc nầy Hầu Thái Công mới lên tiếng.
Chúng ta có thể tiêu diệt được giặc Ân ở đồi Vạn Lâm nầy. Chúng tiến qua đất
Văn Lang, như tiến vào chỗ không người, đánh chiếm các Châu Thành một cách dễ
dàng, vì thế chúng sẽ không coi quân lực Văn Lang vào đâu nữa, ung dung mà tiến
qua đồi Vạn Lâm. Chúng sẽ cho quân mở đường đi trước, đó chưa phải là quân chủ
lực, nếu có quân mai phục chận đánh, thời chúng tỏa ra bao vây đồi Vạn Lâm rồi
tìm kế tiêu diệt chúng ta. Theo thời tiết hiện giờ thời ta không sợ hỏa công vì
trời hay mưa, cây cối luôn ẩm ước, chúng ta có thể an tâm mà mai phục nơi đồi
Vạn Lâm nầy, cứ để cho đội quân mở đường đi qua, chờ cho quân chủ lực loạt vào
vòng vây là tấn công.
Quân ta chủ động, quân giặc bị động, chỉ
cần ba vạn quân lựa vào những chỗ hiểm yếu phục kích, lợi thế tấn công, cũng đánh
tiêu mười vạn quân của chúng.
* * *
HỒI
THỨ MƯỜI
KINH CHÂU THẤT THỦ
Lại nói về quân Ân sau khi đánh bại quân
Văn Lang ở Huyện Giao Trung, tiến tới bao vây Kinh Châu, kết hợp với quân Hồ,
đánh chiếm Kinh Châu một cách dễ dàng, vì Kinh Châu chỉ còn có hơn năm nghìn
quân, không phải là quân chủ lực, quân Ân, quân Hồ, chiếm Kinh Châu như lấy đồ
trong túi, chẳng tốn bao nhiêu sức lực, quân Ân làm phép cuồng phong nổi lên,
quân binh trong thành kinh hồn bạc vía, quân Ân làm phép yêu tinh quỉ dữ bay
lên thành gào thét tấn công, quân binh hổn loạn, quân Hồ leo tường nhanh như
chớp, quân Ân phá cổng thành, chỉ trong chốc lác quân Ân, quân Hồ, tràn ngập vào
thành. Kinh Châu thất thủ.
Vị tướng nữ thống lĩnh chỉ huy quân Ân, là
Sát Sát không những võ nghệ cao cường thần thông pháp
thuật ít ai
Sánh nổi, mà còn đa mưu túc
trí, ít ai bì kịp, Sát Sát là vợ
chính của Ân Mao Vương, thống lãnh
hơn 10 vạn quân tinh nhuệ, quân chủ lực, nhất là đội quân kỵ binh, đội quân xạ
binh, di chuyển nhanh chóng lợi hại vô cùng,
Chiếm được thành Kinh Châu, Sát Sát báo
tin thắng trận cho Ân Mao Vương, lên kế sách tiến đánh thành Ninh Châu, Sát Sát đang cùng các Tướng lĩnh bàn
bạc lên phương án tiến đánh thành Ninh Châu.
Thời có một con yêu tinh vào báo. Bẩm
Nương Nương:
Quân chủ lực Văn Lang đã đến
Ninh Châu, quân binh đông như kiến, ước lượng trên dưới 20 vạn quân.
Tướng
lĩnh quân Hồ, là Hồ Nam Quân nói chúng có 20 vạn quân chủ
lực, hai lực lượng chúng ta kết hợp lại cũng trên 15 vạn quân, hơn kém bấy
nhiêu thời có đáng gì, chỉ cần quân binh tinh nhuệ, tuy ít nhưng cũng chẳng kém
gì nhiều.
Sát
Sát trợn mắt nói chúng kéo đến là may cho ta, khỏi mất công tìm chúng thanh
toán.
Rồi ra lịnh cho Phong Yêu và Quỉ Yêu, tàn
hình đến Ninh Châu xem chúng bàn những gì.
Phong Yêu và Quỉ Yêu, bay lên không biến
mất.
Đây nói về Phong Yêu và Quỉ Yêu, được lệnh
Nương Nương bay tốc hành đến Ninh Châu, ẩn mình vào thành nghe lén quân Văn
Lang bàn những gì.
Nói về nguyên Dực, cùng các quan Tướng Ninh Châu bàn luận sôi nổi, về kế
sách chuyến thuật tiêu diệt quân giặc, nào hay đâu có kẻ tàn hình ẩn núp gần đó
nghe lén,
Hầu Thái Công hiến
kế.
Quân Ân thế nào cũng đi qua đồi Vạn Lâm. Chúng
ta cho ba vạn quân mai phục những chỗ trong yếu nơi đây, để
cho quân mở đường đi qua, chờ
cho quân chủ lực tiến sâu vào ổ mai phục thời ra tay.
*- Lại cho năm vạn quân nhanh chóng đi bọc về
hướng Đông Bắc qua khỏi đồi Vạn Lâm hơn 10 dặm phục kích ở xa để cho quân giặc
tiến sâu vào đồi Vạn Lâm thời mới duy chuyển quân binh chận đường rút lui của
chúng mà đánh,
Còn đại quân của ta đi bọc về
hướng Tây chận đứng đường tháo chạy của chúng, rồi tiến nhanh vào thành lấy lại
thành Kinh Châu.
Về vận chuyển lương thực thời do quân
Ninh Châu đảm nhiệm, Tướng Soái Nguyên Dực,
cho đây là kế sách hay, bằng thi hành
theo kế sách nầy.
Hai con quỉ nghe xong liền tức tốc bay trở
về Kinh Châu báo cho Sát Sát Nương Nương biết.
Sau có thơ rằng.
Cơ mưu bại lộ nào có hay.
Ra sức điều quân bố trận bày.
Rồng cọp vô tình sa bẫy lưới.
Vận nước còn đen khó đổi thay.
* * *
Kế sách mưu Thần đánh giặc Ân.
Nào hay bại lộ kế mưu hay.
Tự mình dẩn xác vào chỗ chết.
Trận địa vùi chôn thê thảm thay.
Trong binh pháp hai bên đánh
nhau, nếu bên nào bại lộ cơ mưu, thời coi như đã bị thua, nói gì đến chiến
thắng. Quân giặc tương kế, tựu kế, mà không hay biết gì cả, đến khi thất bại
thời mới hổi ôi, chưa nói đến sự nghi ngờ lẫn nhau trong các Quan Tướng, làm
suy giảm sức mạnh của chiến đấu, suy giảm sức mạnh của của thống nhất, hợp lực
chống quân thù.
Nói về Sát Sát nắm bắt được thông tin bí
mật của quân Văn Lang. Liền tức tốc hành động, đi trước một nước cờ điều khiển
quân binh theo ý đồ của mình.
Sát Sát bàn với Hồ Man Quân Tướng quân thống lĩnh năm vạn quân Hồ, đến Huyện Ninh Điền chọn nơi hiểm yếu phục
kích, chờ cho quân Văn Lang đánh bọc hậu đi tới sa vào ổ phục kích là tấn công
ngay. Võ
Vu, Tướng quân nghe lịnh, có thuộc hạ, Tướng quân thống lãnh ba vạn quân,
nhanh chóng đến đồi Vạn Lâm trước quân Văn Lang kéo đến phục kích.
Khi quân Văn Lang đi sâu vào
đồi Vạn Lâm, chưa kịp tản ra phục kích thời tiêu diệt ngay, làm cho chúng không
kịp trở tay.
Hổ Tiên
Tướng quân nghe lịnh, có thuộc hạ, Tướng quân dẫn theo năm nghìn kỵ binh
nhanh chóng vượt qua hàng chục dặm đánh bọc hậu từ sau đánh tới, cướp lấy lương
thực của chúng, cũng như chận đánh quân hoảng loạn tháo chạy quân Văn Lang.
Còn ta thời thống lãnh 8 vạn quân chận đánh
quân chủ lực tại Tây Bắc Sơn Ninh Châu chận
đánh quân chủ lực Văn Lang.
* * *
HỒI
MƯỜI MỘT
TRIỂN KHAI LỰC LƯỢNG
Đây nói về Nguyên Dực cùng các Tướng hợp bàn kế sách chống giặc, thực hiện theo kế sách của. Hầu Thái Công, thông tin cuối cùng về quân giặc, không
ngờ bị quân Ân đánh lừa thông tin, là quân Ân còn án binh bất động chưa tiến
đánh Ninh Châu, nhưng thật ra quân Ân đã bí mật triển khai điều động quân binh
rồi, vì sao quân Văn Lang lại không phát hiện được, vì dân chúng lúc nầy, hổn
loạn, lo tìm đường lánh nạn, tiến về Nam tránh quân xâm lược, nên quân Văn Lang
khó phát hiện điều quân bí mật của quân Ân.
Được thông tin quân Ân vẩn án binh bất
động, chưa triển khai lực lượng, tiến đánh Ninh
Châu, Tướng Soái Nguyên Dực trở
về doanh trại, điều khiển quân binh, theo kế sách đã dự định.
Hầu Tướng Quân
nghe lịnh, có thuộc hạ, tướng quân
thống lĩnh 5 vạn quân tức tốc lên đường trong đêm nay đến đồi Vạn Lâm theo sự
chỉ dẫn quân Ninh Châu, trước khi trời sáng, để tránh tai mắt quân Ân phát
hiện, phân bổ lực lượng những chổ trong yếu phục kích kín đáo, để cho quân mở
đường đi qua, chờ cho quân chủ lực đi sâu vào ổ phục kích rồi ra hiệu lịnh cho
quân binh đồng loạt tấn công, tuân lịnh.
Việt Luân
Tướng Quân, nghe lịnh, có thuộc hạ, Tướng
quân thống lãnh 5 vạn quân bọc theo hướng Đông Bắc, đi trong đêm vượt qua khỏi
đồi Vạn Lâm chừng hơn 15 dặm ẩn náu, không cho địch phát hiện, khi địch đi qua
khỏi thời đưa quân đến chận đường rút lui, tiêu diệt chúng, tuân lịnh.
Bạch Tướng Quân nghe lịnh, có thuộc hạ, Tướng quân dẫn theo năm nghìn quân đi theo đoàn
quân vận chuyển lương thực khi nghe có trận giao chiến thời thần tốc tiến về
đồi Vạn Lâm trợ lực cho quân ta, tuân lịnh.
Chồn cáo thi nhau cướp giang
sang.
Mưu mô xão quyệt mấy vạn ngàn.
Hung tàn bạo ác ăn uống máu.
Chúng dày, chúng xéo nát ruột gan.
*
* *
Dân lành khốn khổ biết bao.
Chúng đâm chúng chém thây phơi khắp cùng.
Ngoại xâm lũ giặc bạo tàn.
Chúng vơ chúng vét xốm làng còn chi.
* * *
Đây nói về Tướng Soái Nguyên Minh, thống lãnh 20 vạn quân chủ lực từ Vân Châu
tiền về Kinh Đô, Nam Kinh Xích Quỷ, đến
Huyện Nam Giao thời thấy dân chúng
thi nhau chạy giặc, một cảnh tượng vô cùng thê thảm.
Đời sau có kể lại rằng.
Chết đói đầy đường thê thảm thay.
Cái lạnh trùm lên cắt thịt da.
Kêu gào thê thảm con tìm mẹ.
Đau buồn ức nghẹn con lạc cha.
Trong tình cảnh nầy, Quan
Tướng Văn Lang đau xót vô cùng, nhìn cảnh mẹ dắt con mặt mày bơ phờ chạy theo
đoàn người tỵ nạn, không biết bao nhiêu chết đói, những cảnh tượng khốn đốn ấy
không ai là không căm phẩn quân thù xâm lược.
Vận nước suy do Nguồn Cội mất.
Nạn
khắp cùng khó thoát tai ương.
Nghĩ đời càng nghĩ càng thương.
Cũng vì lạc Cội ngoại xâm hoành hành.
Gươm Trấn Quốc đâu còn biến mất.
Nghĩa đồng bào tan nát loạn li.
Truyền thống tốt đẹp quên đi.
Làm sao tránh khỏi ngoại xâm quét càn.
Lòng mê muội học đòi phương Bắc.
Giặc chuyển xây họa khắp nước non.
Mắt mưu gian kế Bắc phương.
Dã tâm xâm lược còn chi nước nhà.
Nền Văn Hiến tôn thờ gìn giữ.
Thời lo chi lũ giặc ngoại xâm.
Con đường dân chủ trống không.
Độc tài phải chịu nát tan cơ đồ.
Cây mất gốc héo cành héo ngọn.
Sông không nguồn sông cạn sông khô.
Mê lầm văn hóa ngoại
ban.
Hồn linh nô lệ còn chi giống nòi.
Dân lạc Cội dân tình xơ xác.
Nạn vần xoay chết chóc điêu linh.
Chia năm xẻ bảy còn chi.
Làm mồi cho giặc nuốt thời béo no.
Mất truyền thống tan hoang nghiệp Tổ.
Đời lệ nô bể khổ chất chồng.
Mất Nguồn, mất Cội cha
ông.
Nước non, non nước, chất chồng
nạn tai.
*
* *
Nói về Tướng Soái Nguyên Minh cũng hiểu được phần nào tình hình Bắc Văn Lang, vì ảnh
hưởng quá nhiều văn hóa, cầu cạnh, xin xăm, bói quẻ, nhập đồng, nhập bóng, đoán nầy, đoán kia, mê hoặc bỡi yêu, tinh, ma,
quỉ, ứng nhập vào, lung lạc, lòng mê muội của dân chúng, ứng quẻ, lời dạy bảo
của thần linh, ông nầy làm Vua, bà kia làm Chúa, tin theo, làm theo, nổi lên
đòi tự trị theo phương Bắc, chỉ cần vài trăm nóc nhà cũng xưng Vua, Vua nầy
thôn tính Vua kia, Vua kia thôn tính Vua nọ làm rối loạn Bắc Văn Lang.
Tạo ra thời cơ xâm lược những tay tham tàn
bạo ác phương Bắc, hậu quả là không sao cứu vãn được.
Tướng Soái,
Nguyên Minh, cho quân tạm dừng nghĩ, vì
còn cách Kinh Đô không bao xa, cho người thám thính tình hình của giặc.
Không bao lâu thời quân thám thính về báo,
quân Ân đóng dinh trại cách Kinh Đô không xa, chúng dựng lên một đài quan sát
rất cao sáu bảy tần, để quan sát động tỉnh trên 20 dặm, có lẽ chúng đã thấy
quân binh chúng ta đã tiến đến đây, nhưng không thấy chúng động tỉnh gì.
Nguyên Minh
dừng quân nghĩ không bao lâu thời có
quân vào báo, các Châu hổ trợ quân binh tham chiến, Nguyên Minh mừng rở hỏi
được bao nhiêu, bẩm Tướng Soái, hơn năm vạn, các Châu Phủ còn hổ trợ lương thực,
Nguyên Minh hết sức an tâm về cuộc chiến nầy.
Nguyên Minh
chưa biết phải đóng quân tại đâu, thời
có người vào báo, có vị Đại Quan muốn gặp Tướng Soái,
Nguyên Minh hỏi ông ta là ai,
bổng có người lên tiếng hỏi tiếp, có phải ông ta là Đa Kế không? vị Quan binh kinh ngạc nói sao ngài biết, ông ta vui
mừng trả lời được người đó tới giúp thời lo gì không thắng được giặc Ân.
Đa Kế là vị Quan thanh liêm tinh thông Binh Pháp, thích sống
ẩn dật, có lẽ không thể ngồi yên khi vận nước sắp rơi vào tay quân giặc. Vị
Quan biết Đa Kế đó là ai vậy, còn ai vào
đó nữa, chính là Lạc Hầu Công, từ
Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỹ, vào Kinh
Đô Văn Lang cầu cứu viện binh.
Nguyên Minh,
nghe Lạc Hầu Công khen ngợi người đó như thế liền cho mời vào.
Nguyên Minh
thấy Đa Kế là người dị tướng, biết ngay là người có tài hay, liền tiếp
đón mời ngồi.
Nguyên Minh hỏi nghe ngài tinh thông lục kinh lời đồn có đúng chăng?
Đa Kế khiêm tốn nói
may mắn tôi có đọc qua, Kinh Lễ, Kinh
Nhạc, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Luân, ở vào thời đại đó mà biết
nhiều hiểu rộng như vậy, quả đúng là dị
nhân.
Nguyên Minh
hỏi có kế sách gì chống trả lại quân
Ân không?
Đa Kế khoang nói đến chuyện đó vội, mà tìm nơi lợi thế để
đóng quân, quân địch muốn đánh ta cũng khó theo tôi thấy Huyện An Giao, Huyện Long Giao là hai nơi đóng quân tốt nhất, một
nơi gần quân Ân, một nơi xa quân Ân, ta chia hai lực lượng, hổ trợ nhau liên
kết bảo vệ nhau, không cho địch biết sức mạnh của ta, chúng ta hoạt động một
mặt nổi một mặt chìm, một hành động bí mật, một hành động công khai, có như thế
mới đánh thắng chúng được, hiệu quả chiến thắng quân thù, phần lớn là những kế
sách bất ngờ, ai chủ động cuộc chiến người
đó thắng.
Nguyên Minh bằng nghe theo kế sách của Đa Kế, chia hai lực lượng, một nữa âm thầm đến huyện An Giao, một
nữa rầm rộ đến huyện Long Giao.
Nói về hơn 10 vạn quân rầm rộ kéo đến Huyện
Long Giao, không xa danh trại quân Ân là mấy, dựng doanh trại theo ngũ hành
trận, Đông- Tây- Nam- Bắc – Trung Ương,
lại cho dựng quan sát đài cao năm tần không thua kém gì quân Ân.
* * *
HỒI
MƯỜI HAI
Họa nào hơn bằng họa xâm
lược.
Khổ nào hơn nước mất nhà tan.
Buồn nào hơn nổi buồn nô lệ.
Cảnh ngục tù, đánh đập lầm thang.
Đây nói về quân Ân bao vây Kinh Đô hơn ba
tháng, trong không thể ra ngoài không không thể vào, cắt đứt mọi thông tin liên
lạc, lương thực cạn kiệt lần, theo tình hình nầy giặc không đánh cũng tự thua, đầu
hàng cũng chết, không đầu hàng cũng chết, phải nói lúc nào cũng ngồi trên đống
lửa, các Tướng không còn giữ bình tỉnh được nữa.
Lạc Cao Giang nói,
con cháu Tiên Rồng có chết thời chết cho vinh quang, không thể chết đói, hay
chết cuối đầu trước quân giặc được, để tôi ra giết chúng một trận cho đã tay
rồi chết cũng được.
Hầu Việt Yên
cũng nói, tôi cũng thế để tôi ra trận
quyết một trận sanh tử với chúng, có chết cũng cam.
Trong lúc đắng đo suy nghĩ thời có quân
trên thành vào báo, có lẽ quân cứu viện chủ lực quân Văn Lang đã đến, cách Kinh Thành không xa, về hướng Nam, đóng
trại tại Huyện Long Giao.
Hùng Lang Công,
cùng các Quan Tướng Kinh Thành, nghe tin nầy như cây chết héo lâu ngày gặp
nước, như người chết đuối gặp phao, tất cả đều kéo lên Thành xem có đúng là sự
thật không, quả đúng như vậy xa xa cờ xí quân Văn Lang rợp trời rợp đất.
Hùng Lang Công
cùng các Tướng như muốn ngặt thở
trước tin vui nầy, các Tướng hét lên chúng ta có quân cứu viện rồi, chửng bị tử
chiến với quân xâm lược, vui sướng quá.
Luồng gió hồi sanh đã đến rồi.
Lòng đầy vui sướng tận chân trời.
Văn Lang chủ lực quân đã đến.
Niềm tin chiến thắng dậy trong tôi.
Nói về quân Ân, bao vây Kinh Đô không đánh
cũng thắng, đó là điều hiển nhiên không chối cải vào đâu được, nếu không có
quân chủ lực Văn Lang đến cứu.
Ân Mao Vương,
cùng Nương Nương là Nghịch Phong,
đang lên kế sách đánh chiếm luôn nước Văn Lang, không phải là Bắc Văn Lang nữa.
Với mộng xâm lược, lòng tham vô bờ biến,
chúng quá hiểu rõ nước Văn Lang vô cùng rộng lớn, chỉ cần một Châu cũng bằng
một nước lớn ở phương Bắc, đất đai trù phú , nông sản, thủy sản, lâm sản ,
không làm gì cho hết, nhất là ngành đồng,
thau, sắt, thép, không có một đất nước nào bằng, chỉ cần chiếm lấy được nước
Văn Lang thời coi như đã đến cực đỉnh, của sự xưng hùng xưng bá, chỉ trong vòng
mấy trăm năm mà dân số tăng lên đông không kém gì phương Bắc.
Ân Mao Vương,
coi nước Văn Lang sắp thuộc về mình, thứ nhất là có quân Hồ, quân Hung Nô, thứ hai
nước Văn Lang tình hình dân chúng bất
mãn, lòng dân không bằng lòng cách cư xử Vương Quan đối với dân, bất hòa, dân không cùng chung chí
hướng, bất ổn, dân tình luôn xáo
trộn không yên, bất thường, dân
chúng không lập trường, thường nghe lời xúi dục, bất trị không thể dạy dỗ theo ý của mình, dân chúng nổi lên đòi tự
trị như đã thấy, bất đồng không cùng
chí hướng, chia năm xẻ bảy, bất trắc, không lường trước được sự việc, có thể nói là
bất lực trước tình hình của đất nước.
Đây chính là cơ hội cho ta thôn tính nước
Văn Lang, đánh bại quân chủ lực Văn
Lang.
Ân Mao Vương,
đang hứng chí với mộng bá Vương Chúa
Tể của mình, thời có quân vào báo.
Bẩm Chúa Vương, quân thám báo đưa tin là
quân chủ lực Văn Lang, từ Kinh Đô Văn Lang đã đến Huyện Nam Giao, Ân Mao Vương tức thời triệu tập các
Tướng Lĩnh xa gần trấn thủ khắp nơi, về
hội hợp bàn kế sách tiêu diệt quân Văn Lang, thông tin nhanh chóng được
ban ra, không bao lâu thời các tướng lĩnh đến đầy đủ.
Mao Vương nói quân Văn Lang đã tiến đến gần
sát chúng ta, chỉ còn hơn bốn mươi dặm, hãy điều động toàn lực lượng bao vây
tấn công chúng.
Hồ Ma can chưa cần đánh vội như thế, tuy biết rằng quân chủ
lực Văn Lang từ xa xôi hơn một nghìn mấy trăm dặm kéo đến đây, thời quân binh
đã mõi mệt, chận đánh là ưu thế thuộc về ta.
Nhưng xét lại thời chưa hợp lẽ, vì quân
Văn Lang phát xuất lên đường từ lâu, hơn cả tháng, nay chúng mới tới đây, chúng
di chuyển quân đi rất chậm, luôn luôn cũng cố sức mạnh của quân binh, như vậy
chúng đã chuẩn bị trước sự tấn công của chúng ta, hơn nữa chúng ta chưa nắm bắt
được lực lượng quân Văn Lang là bao nhiêu, chúng ta chỉ cần cũng cố lực lượng
đối mặc với sự tấn công của quân Văn Lang, Ân Vương nghe Hồ Ma nói cũng có lý
liền theo kế sách của Hồ Ma.
Không bao lâu thời có quân vào báo, quân
Văn Lang duy chuyển rất nhanh, chúng đã kéo đến Huyện Long Giao cách chúng ta chỉ hơn 10 dặm. Ân Mao Vương
nói
chúng duy chuyển nhanh đến thế sao, bằng ra lịnh cho các Tướng, chuẩn bị cho
chiến đấu, tiếp tục theo dõi xem chúng tiến đánh nơi nào trước.
Đây nói về quân Văn Lang chia hai lực
lượng một âm thầm tiến về huyện An Giao,
đóng đô hạ trại bí mật, một kéo quân rầm rộ duy chuyển nhanh chóng về Huyện Long Giao, dựng trại đóng quân
tại đây, bày binh bố trận đóng quân theo ngũ hành trận, xong đâu vào đấy khí
thế dậy trời.
Tướng Soái
Nguyên Minh cùng các Tướng lên đài
quan sát thấy dinh trại quân Ân đồn trú xa gần nhiều nơi, theo xa xa luân trận,
chỉ cần tiến đánh một doanh trại, thời các doanh trại khác tiến đánh ngay, phải
nói là lợi hại vô cùng, các Tướng lĩnh đứng trên đài quan sát, thấy một doanh
trại rộng lớn gần Kinh Đô, có lẽ đây là tổng doanh trại chỉ huy, quân Ân, điều
khiển quân binh.
Các Tướng lĩnh Văn Lang ai nấy cũng háo
hức ra trận, mở màn trận chiến.
Nguyên Minh, hộp
bàn với các Tướng nói cuộc chiến chúng ta là cuộc chiến lâu dài, khó mà thắng
gấp được, vì quân Ân rất hùng mạnh, tùy thời cơ mà thắng nhanh hay chậm, đã
giáp mặt với quân Ân là chúng ta đã đi vào quyết tử, đã vào trận thời một mất
một còn, nhất là trận mở màn
chỉ có thắng không được thua.
Tướng Lĩnh nào ra trận trước đây, Nguyên Minh
hỏi
các Tướng Lĩnh ai nấy cũng
đều tranh nhau ra trận, không ai chịu nhường cho ai.
Thấy các Tướng Lĩnh tranh nhau không ai
chịu nhường ai, bằng nghĩ ra một kế, Đa Kế nói lão Thần có một đề nghị, thôi thì bốc xăm vậy,
ai bốc trúng người đó đi, tất cả Tướng Lĩnh đều nhất trí. Thế là cuộc bốc xăm
diễn ra, trong xăm chỉ có một chữ xuất, ai bốc trúng thời người đó ra trận, gần
20 tướng lĩnh ai nấy đều bốc một xăm.
Cự Lân bốc xăm rồi mở ra xem, mừng rở reo lên, tôi bốc trúng
rồi, tôi bốc trúng rồi.
Tướng Soái , Nguyên Minh tức thời ra lịnh.
Cự Lân nghe lịnh, có thuộc
hạ, Tướng quân điểm 5 nghìn quân, khiêu chiến với quân Ân, tuân lịnh.
Trước khi ra quân Đa Kế dặn, thắng giặc nhờ cơ trí hơn là ở sức mạnh, Cự Lân như hiểu
ý, làm ra vẻ yếu đuối, Đa Kế nói chúng ta thắng trận đầu rồi, ai nấy cũng lấy làm
kinh ngạc, cho lời nói nầy, chưa đánh mà biết thắng.
Nói về Cự Lân điểm 5 nghìn quân binh, rồi truyền khẩu lệnh rằng, tử chiến
ra trận thời coi như đã chết, lao tới quân thù mà tiêu diệt.
Hào khí Anh Linh đất phương Nam.
Ung đúc hùng anh sắt dạ gan.
Tung hoành ngang dọc trên sóng dữ.
Bắt cọp rượt Rồng dậy núi non.
Đây nói về Ân Mao Vương cùng các Tướng Lĩnh ở trên đài quan sát, thấy từ doanh trại quân Văn Lang, đóng theo
vị trí ngũ hành, từ nơi Trung Ương một đội quân kéo ra, dẵn đầu quân binh gồm
có ba Tướng, trong đó có một Tướng là đáng chú ý hơn cả.
Hồ Ma nói vị Tướng nầy không phải tầm thường đâu, các Tướng
Lĩnh không chú ý đến lời nói của Hồ Ma, mà tỏ vẻ xem thường Tướng địch Văn Lang.
Có Tướng nói Văn Lang đã hết người rồi
sao, chẳng thấy chút gì là oai phong cả.
Trong Tướng giặc Ân, có một Tướng nổi
tiếng là vô cùng ngạo mạn không xem ai ra gì, và cũng chưa từng gặp đối thủ bao
giờ, đã từng giết chết hơn vài chục Tướng, danh vang như sấm, người đó là ai, chính
là Ngụy Đan.
Ngụy Đan ham công thưa với Chúa Ân Vương rằng,
để thần ra trận giết quách
Tướng giặc Văn Lang kia làm giảm uy phong của chúng.
Ân
Vương Nói, phải thắng không được thua, Ngụy Đan điểm 5 nghìn binh từ trại
giặc Ân xông ra quát lớn, mau xưng tên họ về chầu âm phủ.
Cự Lân giục
ngựa xông lên thét, ta là Cự Lân, mau khôn hồn đầu hàng, ta cho chết toàn thây.
Ngụy Đan hét lên như sấm, con
chuột nhắc khua môi múa mỏ lớn lối xem đây, tức thời cây đại giáo nặng đến 80
cân múa lên vù vù thúc ngựa lao tới chém Cự Lân một giáo như trời giáng, Cự Lân
không dám chống đở thúc ngựa né tránh, Ngụy Đan, chém hụt một đao, bằng hét lên
một tiếng thúc nhựa lao tới chém liền mấy giáo như tia chớp.
Trước sức mạnh kinh khiếp của địch, Cự Lân
chỉ biết né tránh muốn hụt hơi.
Ngụy Đan, dừng ngựa quát, ngươi chỉ có cái
tài né tránh, sao gọi là anh hùng, Cự Lân quát lại ta sợ gì ngươi mà không
chống trả, nói xong liền giục ngựa lao tới chém Ngụy Đan một đao. Ngụy Đan đưa
giáo lên đở choang đinh tai nhứt óc. Ngụy Đan thấy địch thủ không có gì là
mạnh, thời tỏ vẻ coi thường, xông nhựa tới tấn công tới tấp, Cự Lân ra sức
chống đở, hai bên đánh nhau hơn sáu mươi hiệp, vẩn chưa phân thắng bại, biết
rằng Ngụy Đan, luôn áp đảo Cự Lân,
Ngụy Đan, càng đánh càng tức giận, tưởng
chừng như vài hiệp là hạ gục Cự Lân được ngay, nào hay đâu đánh hơn sáu mươi
hiệp mà vẩn chưa hạ gục được Cự Lân, thử hỏi không tức sao được.
Ngụy Đan vô cùng tức giận, thúc ngựa lao tới
chém tới tấp, Cự Lân chống đở không nổi sắp bại đến nơi.
Thật là:
Một bên giáo chớp sáng ngời.
Một bên đao pháp lạ đời cương nhu.
Cự Lân càng đánh càng thua.
Ngụy Đan càng đánh càng reo càng hò.
Hai bên chiêng trống vang trời.
Quyết cùng tiêu diệt tại thời nơi đây.
Cự Lân sắp bại đến nơi.
Ngụy
Đan dồn dập giáo thời nổ vang.
Âm ầm đất chuyển trời rung.
Giáo, đao, chơm chớp bịt bùng bủa vây.
Cự Lân ra sức chuyển xây.
Đường tơ kẻ tóc mạng vong tức thì.
Ngụy Đan tỏ vẻ vui mừng.
Con mồi sắp ngã tàn đời nát thây.
Nào hay trận thế chuyển xây.
Bất ngờ đảo lộn kinh thay bất ngờ.
Trên đài cao Ân Mao Vương kinh hải khi nghe tiếng thét như sấm của Cự Lân, thấy
Cự Lân đang thế bại chuyển thành thế thắng, đang thế yếu trở thành thế mạnh.
Trường đao chém tới như tia chớp ầm một
tiếng đinh tai nhứt óc.
Ngụy
Đan cả người lẫn ngựa lảo đảo, chưa kịp lấy lại bình tỉnh, thời một tia chớp
khác lại chém tới, Ngụy Đan tránh không kịp trúng một đao bỏ mạng.
Quân Văn Lang thắng thế ào ào xông lên
chém quân Ân tơi tả, thây phơi chật đất, kinh hồn bạc vía.
Trên đài cao Ân Mao Vương cùng các Tướng Lĩnh sửng sốt, không thể tin vào mắt
mình.
Ân Vương tức tối nói, có ai ra trận hạ gục
tướng địch đó cho ta, một Tướng nữ lên tiếng nói, để thần ra trận hạ gục tên Tướng xão quyệt đó, cho chúng biết thế
nào là sức mạnh của quân ta, tên nữ Tướng đó là ai mà lớn lối như vậy, còn ai
nữa tên là Chiên La nổi tiếng khắp
vùng Tây Vu Hồ Ân, Chiên La điểm 3
nghìn quân nhanh chóng xông ra hét lớn xem
ta lấy đầu ngươi đây, nói xong thời giục ngựa lao tới.
Bổng có tiếng quát lanh lảnh nữ tặc hổn
láo xem đây tức thời một nữ Tướng xông ra chận đầu Chiên La chém tới
một kiếm, Chiên La, múa kiếm chống đở choang đinh
tai nhức óc, Chiên La thấy Tướng nữ xông ra chận đánh mình tuổi còn trẻ mặt như
trăng rằm, môi đỏ như son, cặp mắt như hồ thu long lanh sáng ngời, tuy là thân
hình mảnh khảnh, nhưng không kém phần oai phong, tức giận thét, nữ tặc ngươi là
ai mau xưng tên rồi chịu chết, Tướng nữ xông ra chận đầu tiên la quát, ta là Khơ Lan, đưa ngươi về chầu âm phủ.
Khơ Lan, nhìn nữ Tướng giặc đoán tuổi cũng
cở như mình, mặt hoa, da phấn, tuy có vẻ mảnh mai, nhưng không kém phần uy
dũng, hai nữ Tướng gườm nhau, như nói với nhau rằng, gặp ta ngươi phải bỏ mạng.
Khơ Lan, trợn mắt quát, mau xưng tên họ ta không giết kẻ vô
danh.
Chiên La, lại càng dữ tợn hơn nữa trợn mắt quát, ta là Chiên La,
nghe cho rõ rồi đi chầu Diêm Vương, nói xong Chiên La thúc ngựa lao tới ra đòn,
song kiếm chém tới kình phong tuông ra ù ù.
Khơ Lan, ra oai nào chịu kém quát lên một tiếng, múa kiếm lên
chống đở. Lời thơ khen rằng.
Khơ Lan, nữ tướng
anh hùng.
Lên non bắc cọp, cỡi Rồng xưa nay.
Đã từng đạp sóng cỡi mây.
Ngư kình bỏ mạng nổi danh anh hùng.
Đường kiếm Khơ Lan, như Rồng bay Phụng
múa, chém tới ầm ầm. Chiên La nào
chịu kém, song kiếm trên tay như bão táp cuồng phong. Về sau có thơ rằng.
Người đẹp dễ đâu phải tầm thường.
Cỡi Rồng cỡi cọp múa đao thương.
Tung hoành ngang dọc trên trận chiến.
Dễ mấy đàn ông vượt trội hơn.
Kia kìa cát bụi tung trời đất.
Mưa đao, bão kiếm dậy núi non.
Vang rền sấm nổ luôn không dứt.
Người ngựa xáp chiến kiếm loáng loang.
*
* *
Chiên La càng đánh càng hay.
Khơ
Lan, càng đánh càng thêm càng tài.
Cát bụi mịt mù rền vang tiếng thép.
Chiêng, trống, dậy trời,
trận chiến dậy non.
Chiên La, Khơ
Lan, đánh hơn trăm hiệp kẻ năm lạng, người
nửa cân, không ai hơn ai.
Ân Mao Vương thấy Tướng Văn Lang tài ba
như vậy, không còn dám xem thường nữa, khó nắm chắt phần thắng, Ân Vương cho
đánh trống thu quân.
Quân Văn Lang thấy thế cũng đánh trống thu
quân, tức thời hai bên ngưng chiến, quân Văn Lang thắng trận, đem lại khí thế
cho toàn quân Văn Lang.
* * *
HỒI
MƯỜI BA
Tưởng rằng đánh bại quân Nam.
Nào hay thua trận, thở than đứng ngồi.
Tướng Nam quả thật Tướng Trời.
Khó mà tiêu diệt mộng thời vỡ
tan.
Đây nói về quân Ân thua trận Ân Mao Vương vô cùng bực tức, quát tháo
ầm ĩ.
Chỉ mấy thằng nhóc con mà không tiêu diệt
được, thời còn nói gì chiếm lấy nước Văn Lang, tức ôi là tức.
Thấy cha tức giận như vậy, Mao Lợi an ủi nói, để mai con ra trận
lấy đầu chúng dâng lên Cha hả cơn giận.
Ân Mao Vương
biết con mình tài ba hơn người, khó
có ai địch lại, bằng ưng thuận gật đầu.
Nói về quân Văn Lang thắng trận, rồi im
bặc không thấy xuất quân, không hiểu là có chuyện gì, lên đài quan sát thấy
đoanh trại quân Văn Lang binh lính đi qua đi lại như đang tập luyện binh pháp,
chiêng, trống, dậy trời.
Đã qua bảy ngày vẩn không thấy quân Văn Lang
đến khiêu chiến, cứ ở trong doanh trại đánh trống khua chiêng.
Ân Mao Vương,
lấy làm lạ chúng sợ gì mà không xuất quân khiêu chiến, khi Bắc Văn Lang quân ta
chiếm cứ gần hết, sắp mất Bắc Văn Lang đến nơi.
Hồ
Ma nói, chúng không tới khiêu chiến đánh chúng ta, thời chúng ta tới khiêu chiến đánh chúng.
Đàng nào cũng phải tiêu diệt chúng, càng nhanh càng tốt, đi vào ổn định Bắc Văn
Lang, rồi tiến đánh Trung Văn Lang, cuối cùng là thôn tính Nam Văn Lang.
Ân Mao Vương
cho lời nói của Hồ Ma là phải, bằng theo kế sách đó mà thi hành.
Ân Mao Vương, cho mời Mao Lợi tới nói rằng, Tướng Văn Lang khá lợi hại, con ra
quân phải hết sức cẩn thận.
Con nên chọn mấy danh Tướng
tài giõi theo con xung trận, dẫn quân
tới đoanh trại quân Văn Lang khiêu chiến,
Mao Lợi nói con xin tuân lịnh.
Nói về Mao Lợi được lịnh khiêu chiến với quân Văn Lang, mặt hầm hầm đầy
sát khí, chọn hai Tướng tài điểm 5 nghìn quân, hùng hùng, hổ hổ kéo đến trước
doanh trại quân Văn Lang khiêu chiến, chửi bới ôm sồm.
Quân Văn Lang co đầu rụt cổ kia, nước Văn
Lang sắp về tay ta, các ngươi chạy đâu cho thoát, mau ra quy hàng thời sống,
chống lại thời gà chó cũng chẳng còn, thức thời, hiểu thế mới là khôn.
Trên đài quan sát Tướng Soái, Nguyên Minh cùng các Tướng Lĩnh, nhìn thấy quân Ân tới
khiêu chiến, chửi bới ôm sồm, nhịn không được nữa đòi xuất quân giao chiến, ở
trên khán đài cao bảy tần.
Nguyên Minh
quan sát ba Tướng Lĩnh của quân Ân, người nào người nấy uy dũng vô cùng, biết là
ba Tướng tài, không dễ gì thắng được.
Nguyên Minh chưa biết phải đề cử ai, Đa Kế hiểu nổi băn khoăn của Chủ Soái,
bằng nói, trong các Tướng Lĩnh ta không phải có một danh Tướng, còn nhà danh
gia Võ Tướng, nổi tiếng nhiều đời, đời Tổ Tằng Tổ Cố, đã từng đánh bại quân Ân
thời nhà Ân đó sao.
Nguyên Minh
nói, có phải lão Tướng gia nói đến
hai anh em nhà Cao Vương phải không, Đa Kế nói phải.
Cao Hãi đại
Đô Tướng thống lãnh 10 vạn quân âm thầm lập doanh trại tại Huyện An Giao, còn Cao Sơn đang
thống lãnh đại quân trọng yếu chủ lực ở đây, Cao Sơn ra trận nhất định thắng.
Nguyên Minh liền cho mời Cao Sơn đến, nói
rằng, quân Ân đã đến khiêu chiến, xét thấy khó có người thắng được chúng, nên
điều Tướng quân ra trận, Cao Sơn vui vẻ nhận lịnh, Nguyên Minh nói Tướng quân
cần bao nhiêu quân binh thời điều động bấy nhiêu.
Cao Sơn
điểm 5 nghìn quân binh mở cửa doanh trại xông ra. Cao Sơn là vị Tướng khác thường, luôn ẩn cái tài chỉ hiện cái Đức, nên
được lòng quân binh Tướng Sĩ, ít ai nhận ra cái tài vô tận của người nầy, Đa Kế là người tinh tế, thấy
Cao Sơn lúc nào cũng khiêm
cung, không cho ai biết mình là có tài, ít tham gia gốp ý kiến, nhưng lại hết
lòng tận tị với quân binh. Có lúc Cao Sơn than rằng.
Nước non khó giữ được rồi.
Cội Nguồn văn hóa không còn ngữa nghiêng.
Văn Lang khó nổi bình yên.
Dân
tình loạn lạc còn chi sơn hà.
Nhớ thời Quốc Tổ ông
cha.
Yêu tinh, quỉ dữ, khiếp kinh hãi hùng.
Phương Nam hưng thịnh thái bình.
No cơm ấm áo nở nhành Thiên hương.
Bây giờ nước đổ non
nghiêng.
Ngoại xâm dày xéo đảo điên cõi bờ.
Dân tình đói khổ ngục tù.
Thân tàn nô lệ, ngẹn ngào thở than.
Quân thù đánh đập dã man.
Lê la vạn dặm xác phơi dọc đường.
Ôi thôi lũ giặc bạo tàn.
Yêu tinh quỉ dữ quét càn hại dân.
Cội Nguồn văn hóa nơi
đâu.
Sao không xuất hiện cứu dân buổi nầy.
Hiển Linh Quốc Đạo chuyển xây.
Mới
mong diệt hết lũ bầy sói lang.
Nói về Cao Sơn nhận ấn lịnh, điểm 5 nghìn quân mở cửa doanh trại xông ra
hét lớn.
Lũ quân xâm lược kia, khôn hồn thời ra
khỏi đất phương Nam, thời còn mạng sống, bằng không tất cả đều vùi chôn
nơi đây. Tướng giặc Ân phi
ngựa tới, quát tháo lớn lối nói, Chúa
Vương ta muốn là Trời muốn, không ai cản được, đất Văn Lang sẽ thuộc về Chúa
Vương ta.
Quy thuận Chúa Vương ta thời sống, chống
lại Chúa Vương ta thời chết.
Cao
Sơn không nói không rằng phi ngựa tới chém Tướng giặc một đao như trời
giáng, bộ mặt dữ tợn của Tướng giặc nào chịu thua, múa giáo chống trả, choang ,
đinh tai nhứt óc, Cao Sơn võ nghệ cao cường bay lên khỏi mình ngựa với thế chim
điêu bắt rắn, từ trên không lao xuống ánh đao chớp chớp kinh hồn, Tướng giặc ra
sức múa đao lên đở, ầm ầm kinh thiên động địa.
Cao Sơn với pháp lưu thủy hành vân, lượng
mình bay trở về mình ngựa, nhanh như chớp thúc ngựa lao tới đánh chiêu ngọa hổ
tiên du, kình phong ầm ầm cuộn tới, Tướng giặc kinh khiếp chưa từng thấy đao
pháp nào lợi hại như vậy. Ánh đao như mưa sa bão táp, hết chiêu nầy tới
chiêu khác liên miên bất tận. Tướng giặc
đở muốn hụt hơi, mới có 20 hiệp tướng
giặc đã ê ẩm cả tay.
Về sau có thơ khen rằng.
Bản sơ hào khí nhất phương Nam.
Đao pháp múa lên sấm nổ vang.
Đã từng chém chết yêu, tinh, quỉ.
Tung hoành ngang dọc cả Bắc Nam.
Cao Sơn hét lên một tiếng như sấm nổ, đường đao chơm chớp giật
lưng trời, Tướng giặc kinh hoàng khiếp vía la lớn tuyệt thế ma đao, dở hết sức
bình sanh chống trả, đùng đùng ầm ầm,
một tiếng rú thê thảm Tướng giặc bỏ mạng tại sa trường. Nói về Tướng giặc đứng
gần Mao Lợi thấy Tây
Đô sắp mất mạng liền phi ngựa vào cứu Tây Đô, nhưng đã muộn Tây Đô hồn du
địa phủ.
Tướng giặc mới lao ra cứu Tây Đô, chính là Tào Hổ,
Tào Hổ gầm
lên như quỉ dữ, múa giáo chém tới ầm ầm kình phong tuôn ra ù ù cát bay đá chạy,
Cao Sơn múa đao chống đở, choang, choang, đinh tai nhứt óc, Tào Hổ liền dở
tuyệt chiêu, kim tiền vượt thác, đường giáo kỳ ảo không biết đâu mà lường, Cao
Sơn dùng chiêu ô Long cổn địa chống trả ầm ầm long trời lở đất. Cao Sơn không
bỏ lở dịp may đánh luôn ba chưởng, Tào Hổ múa giáo chống đở, đùng đùng ầm ầm
dậy núi dậy non, hai bên đánh nhau trên bốn mươi hiệp.
Cao Sơn hét lớn, thúc ngựa lao tới tay
phải ra chiêu Long Hổ xuất du, tay trái ra chiêu xuyên chỉ triệt ma, ánh đao
chớp chớp, chỉ phong véo véo .
Tào Hổ ra sức chống đở chiêu đao, liền bị
trúng ngay một chỉ, muốn nhào xuống ngựa, nhanh như tia chớp Cao Sơn lao tới chém một đao, chết không kịp
ngáp.
Về sau có thơ khen rằng.
Phương Nam nào dễ hết anh hùng.
Dời non lấp biển đất trời rung.
Đường đao chơm chớp muôn vạn dặm.
Khiếp vía kinh hồn giặc cáo chung.
Nói về Mao Lợi thấy Tào Hổ lâm nguy liền phi ngựa ra cứu vãn, nhưng không
còn kịp nữa Tào Hổ hồn lìa khỏi xác bỏ mạng sa trường.
Mao Lợi, thấy chết liền hai Tướng sôi gan hét lớn, nộp mạng
đây, liền thúc ngựa lao tới chém như mưa trút, Cao Sơn chống đở muốn hụt hơi.
Đúng là kỳ phùng địch thủ, kẻ năm lạng,
người nửa cân,
hai bên đánh nhau long trời
lở đất, đao qua giáo lại ầm ầm đùng đùng dậy núi dậy non, đá chạy, cát bay, mịt
mù trời đất, choang, choang, đinh tai nhứt óc. Quả là trận chiến kinh thiên động
địa, đánh hơi ba mươi hiệp, Mao Lợi muốn giết ngay địch thủ, bằng niệm chú thổi
ra một luồng âm phong. Cao Sơn kinh
hãi bỏ chạy, Mao Lợi rượt theo, bổng
Cao Sơn biến mất, Mao Lợi kinh hãi, không biết Cao Sơn ở đâu thời liền trúng
ngay một chỉ, té nhào xuống ngựa, Cao Sơn
lao tới chém một đao chết tốt.
Về sau có thơ khen rằng.
Mấy đời danh Tướng tiếng hùng anh
Tung hoành trận địa đánh giặc Ân
Đường đao tuyệt thế xơi ba Tướng
Rền vang danh tánh rạng trời xanh
Nói về Cao Sơn chém chết Mao Lợi, thời nghe trên không có tiếng
quát, kèm theo tia chớp đánh xuống, Cao Sơn thất kinh né tránh, đùng đùng đùng,
hiện ra ba cái hố lớn, Cao Sơn thấy người đánh mình là một thiếu phụ xinh đẹp,
mặt đầy sát khí, người thiếu phụ ấy là ai thế, còn ai nữa vợ hai của Ân Mao
Vương, mẹ của Mao Lợi.
Nói
về Nghịch Phong mẹ của Mao Lợi thấy
con mình lâm nguy liền bay xuống cỡi con thiên lý mã bay tới trận địa nhưng
không còn kịp nữa, Mao Lợi đã trúng một đao bỏ mạng, Nghịch Phong quyết
giết chết Cao Sơn trả thù cho con, không ngờ Cao Sơn tránh được.
Nghịch Phong còn ở trên không
hóa phép, trời đất tối mù tối mịt, yêu tinh quỉ dữ hiện ra đầy trời, xông tới
chém giết quân Văn Lang.
Cao Sơn ra sức chống lại yêu tinh quỉ dữ, trận chiến xảy ra vô
cùng ác liệt, cuồng phong càng lúc càng mạnh, quân
Văn Lang ngã rạp, yêu tinh
chém giết tơi bời, Cao Sơn phóng ngựa thoát thân, nhưng tiếng quát lanh lãnh
chạy đâu cho thoát, tức thời một luồng tia sáng ập đến, Cao Sơn múa đao chống
đở, ầm ầm khủng khiếp, trước thần lực kinh hồn của nữ Tướng giặc, Cao Sơn chống
trả hơn mười chiêu, thời trúng ngay một kiếm bỏ mạng.
Giết chết Cao Sơn, Nghịch Phong thu phép tức
thời trời quan mây tạnh, yêu tinh quỉ dữ biến mất, quân Văn Lang chết sạch
không còn một người.
Trên quan sát đài Nguyên Minh cùng các Tướng kinh hồn bạc vía, Đa Kế thở dài nói, không ngờ giặc Ân có Tướng nữ tài ba như vậy, Nguyên
Minh cùng các Tướng đem xác Cao Sơn về doanh trại, tẩm liệm cho người đưa về
quê an tán.
Nói về Nghịch Phong giết chết Cao Sơn, tiêu
diệt năm nghìn quân Văn Lang, ôm xác con bay về trại, Ân Mao Vương tức giận râu tóc dựng đứng, ra lệnh cho các Tướng Lĩnh
về hộp, quyết một trận với quân Văn Lang.
Cùng
lúc ấy quân Hung Nô tấn công thành Xích Linh, chúng bắt hơn ba vạn dân Văn Lang,
vận chuyển dầu, cây, dây, thang, lá
chắn, những dụng cụ công phá thành, ở các Châu Phủ, chúng đã chiếm đóng, vận
chuyển hết đến thành Xích Linh, mở ra trận đánh công phá thành quy mô, chiếm
được thành Xích Linh coi như chiếm được Đông Bắc Văn Lang.
* * *
HẾT QUYỂN 1
XEM TIẾP QUYỂN 2
QUỐC BẢO CHÂN KINH
VĂN
LANG
CHIẾN
SỰ
2
THIÊN ẤN THIÊN BÚT
GÒ HỘI
ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI
2013
Quyển 2
HỒI MƯỜI
BỐN
ĐẠI PHÁ QUÂN HUNG NÔ
Đây nói về quân Xích Linh, vừa lọt vào tầm
ngắm của quân xâm lược. Tức thời hai bên đường cây cối rậm rạp tên bắn ra như
mưa.
Lạc Hồng, thất kinh la lớn, có quân mai phục có quân mai phục, lui quân lui quân,
lui quân trong tình thế tên giặc bắn ra xối xả.
Quân Xích Linh lui ra khỏi đồi Vạn Linh
chết chóc thương vong rất lớn. Tàn quân lui về thành xích linh trong tình cảnh
vô cùng thê thảm, tả tơi chết chóc hơn phân nửa.
Mới hay cuộc sống
trên đời.
Lầm thang khốn khổ bỡi gì ngoại xâm.
Họa nầy chưa hết thời họa khác đã kéo
đến, quân Hung Nô từ các ngã kéo đến bao vây Xích Linh Giao Châu.
Nhìn quân Hung Nô bao vây trùng trùng điệp
điệp, Lạc Hầu Vương than rằng, mất
đi văn hóa Cội Nguồn là mất đi tất cả, lệ thuộc nô lệ văn hóa phương Bắc, thời
đại họa giáng xuống không sao tránh khỏi. Tinh thần dân chúng bị mê hoặc bỡi
văn hóa phi nghĩa xâm lược của ngoại lai, làm cho Bắc Văn Lang tan rã sự đoàn
kết, chia năm, xẻ bảy, nổi lên đòi trự trị, theo văn hóa đấu tranh, tranh giành
quyền lực, nồi da nấu thịt ở phương Bắc, thời làm sao tránh khỏi ngoại ban thôn
tính.
Nói về quân hung nô từ các ngã kéo đến
đông như kiến bao vây thành Xích Linh. Sau ba ngày thời quân Hung Nô tấn công
thành Xích Linh, nhờ lực lượng yêu tinh, quỉ dữ hổ trợ.
Nhờ kế sách của Lạc Kim Tiên, quân Hung Nô ý đồ tấn công đã thất bại, vì yêu tinh,
quỉ dữ, chúng khiếp sợ uy linh Quốc Tổ. Hung
Nô Vương là tay hung tàn bạo ác chúng không dễ gì chịu thua, bằng trăm
phương nghìn kế, chiếm lấy cho được Xích Linh Giao Châu.
Quân Hung Nô là quân hung tàn bạo ác, không
có việc ác nào mà chúng không làm, chúng bắt dân chúng Bắc Văn Lang, cũng như
tù binh Văn Lang có hơn ba vạn người,
đày đọa không khác gì sống trong địa ngục.
Chúng
bắt dân chúng khuân vác dụng cụ, vận chuyển thang giây, vận chuyển dầu, vận
chuyển cây, vận chuyển đá, vận chuyển những vật dễ cháy, từ các Châu, Quận, Huyện,
chúng đã chiếm lấy được, vận chuyển cả ngày lẫn đêm, đến Xích Linh để chúng
công phá thành.
Lạc Hầu Vương,
cùng các Quan nhìn thấy quân Hung Nô vận chuyển dụng cụ
công phá thành càng lúc càng nhiều, thời vô cùng kinh hãi.
Trong lúc lo sợ thời có chim bồ câu đưa
thơ từ Huyện An Giao gởi tới. Nội
dung thơ như sau,
Quân chủ lực đã đến An Giao, cho người đến
gặp Đô Tướng, người báo Ngô Việt.
Lạc Hầu Vương thấy
hai chữ Ngô Việt, liền tin tưởng hết sức mừng rỡ, liền cho người theo đường bí
mật đến An Giao.
* * *
Không thể ngồi yên khi quân thù
xâm lược.
Không thể ngồi yên khi nước non
loạn lạc.
Hãy đứng lên, nào hiệp lực chung tay
cứu nước.
Giành lại quyền sống, quyền mưu
cầu hạnh phúc.
Quyền mưu sanh, quyền độc lập,
quyền tự do.
* *
*
Đây
nói về Đô Tướng Cao Hải, theo lịnh
Tướng Soái Nguyên Minh, thống lãnh 10 vạn quân âm thầm đến Huyện An Giao, âm thầm dựng trại đóng đô ở đó, tùy cơ ứng biến
triệt phá quân giặc.
Cao Hải là người không những văn võ song toàn, mà cơ trí cũng
hơn hẳn người, luôn luôn cho người nắm bắt thông tin, chính xác thành lập đội
quân thám báo thiện nghệ, hoạt động rộng khắp. Nên hiểu rõ cánh quân Long Giao
đã thắng trận, lại hiểu rõ quân Hung Nô đang ráo riết chuẩn bị tấn công Xích
Linh Châu, bằng gọi bố chính Ngô Việt, Huyện An Giao đến, dùng chim bồ câu đặc
biệt gởi thư cho Lạc Hầu Vương,
Cao Hải cùng các quan Tướng đang bàn kế sách đánh quân Hung Nô,
thời có thám báo vào báo.
Bẩm Đô Tướng quân, có người từ thành Xích
Linh tới, Cao Hải nói cho mời vào.
Cao Hải nhìn người mới đến thời nhận ra
ngay, không phải là quân binh bình
thường, mà là một Đại Tướng quân cơ trí hơn người, bằng thi lễ mời ngồi.
Người làm nhiệm vụ quan trọng bí mật kia
là ai thế, còn ai nữa nếu không phải Đinh Hoàng Tướng quân thời ai đảm nhiệm
trong trách nầy.
Đinh Hoàng,
Tướng quân đã từng nghe tiếng hai anh
em nhà danh gia, Cao Hải, Cao Sơn.
Đúng là danh bất hư truyền, Cao
Hải Tướng người uy nghiêm, hai con mắt sáng ngời, trầm lặng khác thường, đúng
là mẫu người có tài cơ trí hơn người. Đinh Hoàng thi lễ nói, Đinh Hoàng tôi
được lịnh ký thác của Lạc Hầu Gia, đến đây bàn kế sách triệt phá quân Hung Nô. Hai
bên thi lễ khách sáo xong rồi đi ngay vào vấn đề chính
Đinh Hoàng thông báo tình hình quân Hung Nô
xong, rồi nói rằng, theo tình hình nhận biết của tôi, thời nội trong ngày mai
chúng tấn công phá thành.
Cao Hải hỏi, Tướng quân từ thành Xích Linh đến đây dọc đường
có thấy quân Hung Nô mai phục không?
Nếu có chúng phòng bị thế nào?
Đinh Hoàng nói, quân Hung Nô chiếm lĩnh các Châu Huyện một cách dễ
dàng, sanh ra cao ngạo, xem quân binh Văn Lang không vào đâu.
Nên sự đề phòng không cao độ, trên đường
từ Xích Linh đến đây không thấy quân Hung Nô mai phục, quân Hung Nô rất mạnh về
kỵ binh, chúng duy chuyển rất nhanh, chỉ trong vòng một giờ, chúng duy chuyển
hơn mấy mươi dặm, muốn tiêu diệt hết chúng không phải dễ.
Hiện giờ chúng tập trung lực lượng cao độ
tấn công thành, nên không mấy chú trọng quân Văn Lang tấn công, vì chúng nghĩ quân Văn Lang chỉ là quân nhỏ
lẽ, hiện đang trấn giữ các Châu thành, nên không còn cơ hội để tấn công chúng.
Cao
Hải hỏi, chúng ta có thể chịu đựng được mấy ngày công phá thành của chúng.
Đinh Hoàng nói:
Tuy thành Xích Linh là thành trì kiên cố,
có lợi thế phòng thủ cao, nhưng trước sức mạnh của quân Hung Nô,
nếu khéo điều binh khiển Tướng,
kết hợp toàn lực lượng dân chúng trong thành, có thể cầm cự hơn mười ngày,
Cao Hải nói, chỉ cần cầm cự ba ngày là đủ,
quân Hung Nô tính khí hung bạo, chúng tấn công ba ngày hao binh tổn Tướng, mà
chưa chiếm được thành, chúng sẽ nổi điên lên tấn công luôn cả đêm,
Đến đêm thứ ba quân hung nô ráo riết công
phá thành, khi thấy Nam trại, Tây trại,
Đông trại quân Hung Nô bị cháy, quân Hung Nô rối loạn, thời mở cổng thành ùa ra
tiêu diệt chúng, chúng ta quyết tử với chúng một trận, còn mất thắng thua nầy.
Hai bên bàn bạc xong đâu vào đấy, màn đêm
buôn xuống, Đinh Hoàng dùng thuật kinh công đi trong đêm như một bóng ma, với
quân binh Hung Nô không có sự cảnh giác cao, nên Đinh Hoàng qua mặt chúng một
cách dễ dàng, theo con đường bí mật trở về thành Xích Linh,
Nước non gặp lúc nguy nan.
Vẩn còn những kẻ hiếu trung sáng ngời.
Kể gì sống chết cuộc đời.
Ngày đêm ra sức chống thời ngoại xâm.
Đây nói về Hung Nô Vương, cùng hai người con là Hung Đa Di, Hung Quân Liệt, mỗi người con thống lãnh 10 vạn quân,
Hung Nô Vương thống lãnh 12 vạn quân ồ ạc xâm chiếm Đông Bắc Văn Lang, thế mạnh
như chẻ tre, cuồn cuộn như nước lũ tràn tới, tràn tới đâu cuốn sạch tới đó.
Những bộ lạc Bách Việt Văn Lang, ảnh hưởng
văn hóa phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn nóc nhà cũng nổi lên xưng Vua Chúa
đòi tự trị, làm rối loạn tình hình Bắc Văn Lang, chia năm xẻ bảy, sức mạnh đoàn
kết toàn dân không còn nữa, như một bó đủa đã rời từng cây.
Chính người dân Bắc Văn Lang đã mở ra
trang sử suy tàn, mở đường cho các thế lực ngoại ban, có cơ hội xâm lược Bắc
Văn Lang. Quân
Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, thấy thời cơ đã đến chúng làm gì bỏ qua cơ hội, liền
kéo quân xâm lược Bắc Văn Lang, thế mạnh như cuồng phong vũ bão.
Những bộ lạc, tự mình đánh
mất truyền thống Anh Linh, Đại Nam Văn Lang con cháu Tiên Rồng, chạy theo văn
hóa phương Bắc, học đòi theo văn hóa phương Bắc, chỉ cần vài trăm, vài nghìn
nóc nhà, cũng nổi lên xưng Vua, xưng Chúa, đòi tự trị, bị quân Hung Nô quét
sạch, như quét rác, không mấy khó khăn, những Vua Việt nổi lên đòi tự trị chết
thê chết thảm.
Sau
có thơ rằng:
Ôi những kẻ lầm đường lạc lối.
Lạc tâm hồn vào lối yêu ma.
Tự mình rước giặc vào tha.
Chúng đâm, chúng chém, chúng xơi sạch sành.
Chỉ còn thành Xích Linh, khí thế con Rồng
cháu Tiên, luôn vang dội dòng máu hùng anh.
Quân Hung Nô hiểu rõ chỉ cần chiếm được
thành Xích Linh, thời coi như chiếm lĩnh hầu hết Đông Bắc Văn Lang, còn mấy Châu thành phía Nam Xích Linh là
những Châu thành nhỏ, trục lợi giao thương không như thành Xích Linh, phải nói
thành Xích Linh là trung tâm giao thương các Châu thành Đông Bắc Văn Lang, dân
chúng nơi Xích Linh Giao Châu giàu có vô cùng, không những về ngành thủy sản,
hải sản, nông sản, lâm sản, mà ngành giao thương, đa ngành buôn bán cũng vô
cùng tấp nập, miếng mồi béo bở thèm muốn của quân Hung Nô, nên chúng quyết tâm
chiếm cho được Xích Linh Giao Châu.
Quân Hung Nô sau khi quét sạch, những ông
Vua Việt nổi lên đòi tự trị, như giết một con chó.
Rồi từ Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc, địa phận
Đông Bắc Văn Lang, chúng chia làm ba mũi chính, như ba con đĩa khổng lồ quơ cái
vòi hút máu, từ ba hướng lao nhanh tới thành Xích Linh, bao vây chận nghẹt ba
cổng chính trong bất xuất, ngoại bất nhập, hầu cô lập, nếu không đầu hàng thời
chết lần chết mòn, cuối cùng cũng phải dâng thành cho chúng.
Chúng
chận nghẹt ba cổng chính, Nam cổng, Bắc cổng, Tây cổng, chúng quyết chiếm cho
được thành Xích Linh, nên đóng đô lập
doanh trại cách ba cổng thành không xa.
Tây trại do
Hung Đa Di, thống lãnh chỉ huy.
Nam trại do Hung Nô Vương, thống lãnh chỉ huy. Bắc trại do Hung Quân Liệt, thống lãnh
chỉ huy.
Chúng bắt dân chúng Văn Lang hơn ba vạn
người làm nô lệ vận chuyển dụng cụ công phá thành.
Sau những ngày chửng bị đầy đủ, không chần
chờ gì thêm nữa chúng ra lịnh tấn công, chúng tấn công ngay trong đêm thứ ba,
những kế sách bị thất bại, và chúng chuyển sang tấn công bằng ngày.
Trời thức giất ôi mây mù trắng xóa.
Gió lạnh về như lan tỏa vào tim.
Mây lững lờ như buồn bả mông mênh.
Một cái chết đang gần kề trước mắt.
Những linh hồn âm phủ đã gọi tên.
Quân Hung Nô bắt đầu chuyển
động, tiếng tù thúc quân vang dậy cả non sông, chúng ào ào hò hét thi nhau lao
tới cung thành.
Nghe tù trận hụ lên vang dội.
Như báo rằng chiến trận đến
nơi.
Kia kìa ác quỉ hò reo.
Ào ào nhanh chóng leo lên cung thành.
Chúng thét gào rền trời rền đất.
Như đòi hồn ăn nuốt kinh Thiên.
Nối đuôi chen lấn leo lên.
Vạn nghìn con chuột khiếp kinh bạc hồn.
Quân Hung Nô như hàng vạn con chuột ào ào
leo lên tường, bên dưới có quân xạ tiển bắn như mưa yểm trợ.
* * *
Đây nói về Lạc Hầu Vương, cùng các Quan nóng lòng chờ đợi, bổng từ đường hầm
bí mật xuất hiện một bóng người. Lạc Hầu Vương cùng các Tướng nhận ra ngay Đinh
Hoàng, ai nấy đều vui mừng hớn hở.
Đinh Hoàng nhanh chóng thuật lại tất cả
những gì mình đã thấy, rồi lấy ra một bức thơ, do Cao Hải gởi nói lên những cơ mật tiêu diệt quân Hung Nô.
Nội dung thơ như sau: Tất cả quân binh
trong thành, ra sức chống trả đến ngày thứ ba, theo tính khí hung hản của quân
Hung Nô, thời chúng sẽ tấn công cả ngày lẫn đêm, từ đêm thứ ba trở lên.
Khi trên thành thấy ba doanh trại của quân
Hung Nô bị bốc lửa, thời mở cổng thành xông ra tử chiến với chúng, thắng hay thua cũng chỉ trong một trận đánh
nầy.
Lạc Hầu Vương cùng các Quan bàn bạc chiến
thuật phòng thủ suốt ngày cả đêm, hầu tìm ra giải pháp tốt nhất.
Quân
dân thành Xích Linh đồng một lòng chống trả đến cùng, chuẩn bị cho tử chiến lên
đến tột đỉnh.
Trên thành quân dân nhìn thấy quân Hung Nô
chửng bị tấn công, đều đồng loạt cầu nguyện Anh Linh Quốc Tổ phù hộ. Nhờ thế mà
tinh thần quân dân bình tỉnh lạ lùng, để cho quân Hung Nô leo lên hơn nữa thành,
thời trống chiêng nổi lên quyết tử.
Thế là lao giáo như mưa.
Lửa, dầu, đổ xuống khiếp
kinh bạc hồn.
Cây, đá, ném xuống ầm
ầm.
Hung Nô bỏ mạng rồi đời lớp lang.
Đất trời rung chuyển rền vang.
Hung Nô phơi xác chết thôi kể gì.
Ba ngày ra sức công thành.
Cũng không chiếm được quân thù
lộn gan.
Hung Nô gào thét dậy non.
Đêm về trận chiến càng thêm kinh
hoàng
Bổng đâu lửa dậy đùng đùng.
Vang trời ngựa hí khắp cùng
thiên la.
Hung Nô doanh trại cháy tiêu.
Binh trời ập tới bao vây trong
ngoài.
Hung Nô khiếp vía
kinh hồn.
Quân binh rối loạn dập dồn đạp
nhau.
Cổng thành đã mở toan ra.
Quân binh lũ lượt xông ra chém
nhầu.
Hung Nô ngã rạp tơi bời.
Mở đường tẩu thoát hãi hùng
khiếp kinh.
*
* *
Đây nói về Hung Nô Vương, Hung Đa Di, Hung
Quân Liệt, vì xem thường tinh thần chiến
đấu quân dân thành Xích Linh. Nên chuẩn bị không chu đáo, ỷ đông chỉ cần tấn
công là chiếm được thành, không ngờ quân Văn Lang phòng thủ vững chắc. Quân
Hung Nô chết như rạ, tấn công liền ba ngày đi tiêu hơn ba vạn quân, mà vẩn
không chiếm được thành, điên tiết dồn quân tấn công luôn cả ngày lẫm đêm.
Nhờ sự hổ trợ của yêu tinh ma quỹ chúng
làm cho trời đất tối tăm mù mịt, nhưng chúng không vào được trong thành, nên
không gây ra sự rối loạn trong quân binh.
Đang lúc hăn say tấn công, bổng thấy lửa
đỏ dậy trời, ba doanh trại Hung Nô bị bốc cháy.
Hung
Nô Vương, Hung Đa Di, Hốt Ma Liệt, kinh hãi la lên chuyện gì thế, chuyện gì
thế.
Bổng nghe ngựa hí vang trời quân reo dạy
đất,
Hung Nô Vương hét lớn, chúng ta
bị quân Văn Lang chiếm lấy doanh trại, cũng như bao vây chúng ta, mau phá vòng
vây lui quân.
Cùng trong lúc ấy các cửa thành mở toan, quân
binh ùa ra chém giết dữ dội.
Hung Nô Vương, Hung Đa Di,
Hốt Ma Liệt khiếp vía, không biết địch ở nơi nào nhiều hay ít, chỉ nghe ngựa hí
vang trời quân reo dậy đất, chiêng trống ầm ầm làm khiếp nhược tinh thần quân
Hung Nô.
Quân Hung Nô dẩm đạp lên nhau chạy toán
loạn,
Nói về Hung Đa Di dẫn bại quân phá vòng vây, ùa nhau chạy về phía Tây Bắc,
thời nghe tên bắn xối xả như mưa, đội kỵ
binh nhanh chóng vượt lên, thời nghe một tiếng quát long trời lở đất, chạy đâu
cho thoát, tức thời tướng lĩnh quân Văn Lang múa đao chém tới Hung Đa Di, Hung
Đa Di múa giáo chống đở rồi quày ngựa bỏ chạy, gặp phải quân phục kích, Hung Đa
Di không còn tinh thần chiến đấu, thúc ngựa chạy thoát về hướng bắc, quân văn lang
không rượt đuổi vì chỉ có hơn năm trăm quân.
Sau có thơ rằng:
Văn lang con cháu Tiên Rồng.
Anh hùng gan dạ lẫy lừng muôn thu.
Đánh cho khiếp vía ngoại xâm.
Đánh cho hổ báo vùi chôn trận tiền.
Đánh cho quân giặc đảo điên.
Thây phơi rợp đất, xác phơi đầy
đồng.
Vốn loài ăn cướp non sông.
Tàn đời lũ giặc vùi chôn tàn đời.
Đây nói về
Hung Quân Liệt, kinh hồn bạc
vía chưa biết chạy về hướng nào, thời nghe tiếng quát lanh lãnh, chạy đâu cho
thoát, múa kiếm thúc ngựa lao vào chém Hung Quân Liệt, Hung Quân Liệt múa giáo
chống trả, bổng có tiếng quát như sấm để thằng giặc nầy cho tôi.
Đinh Hoàng múa
thương đâm tới vèo vèo, Hung Quân Liệt ra sức chống trả, bổng có tiếng nói quân
gia chạy theo lối nầy, Hung Quân Liệt còn tinh thần đâu mà chiến đấu, đành thúc
ngựa đào tẩu, bổng có tiếng quát chạy đâu cho thoát, tức thời một người xuất
hiện trường đao chém tới ầm ầm, Hung Quân Liệt kinh hãi, Tướng Văn Lang ở đâu
mà đông thế, ráng thúc ngựa chạy dài, quân Văn Lang tha hồ mà chém mà giết.
Đây nói về Hung Nô Vương trong lòng chưa hết kinh hãi, không hiểu quân Văn Lang
ở đâu tới mà đông đến thế, không lẽ từ
trên trời rơi xuống, từ dưới đất chui lên, phá vòng vây chạy về hướng Tây.
Bổng một tiếng quát như sấm nổ, ta chờ
ngươi đã lâu mau nộp mạng đi, tức thời thanh trường đao như sấm sét đánh tới,
tướng Hung Nô Vương đưa lao lên chống đở ầm ầm đùng đùng, vị Tướng Văn Lang nào
để cho Tướng Hung Nô kịp trở tay, thanh trường đao như tia chớp chém tới Tướng
Hung Nô tránh không kịp trúng một đao ngã gục. Hung Nô Vương lấy làm kinh khiếp,
liền hóa phép nổi lên một trận cuồng phong mù trời mịt đất, phá vòng vây chạy
trốn thoát, người Tướng Văn Lang kia là ai làm cho Hung Nô Vương khiếp vía như
vậy, người đó chính là Đô Đại Tướng Cao
Hải.
Đây nói về Đại Đô Tướng quân Cao Hải, sau khi thảo luận cùng Đinh Hoàng, những khó khăn cùng
thuận lợi,
những gì cần làm ngay, tất cả
đều lên phương án cẩn mật cho trận tiêu diệt quân Hung Nô.
Sau
khi Đinh Hoàng đi rồi, Cao Hải cùng các Tướng Lĩnh với một quyết tâm cao, quyết
tử cho Tổ Quốc quyết sinh, không hổ danh là con Rồng cháu Tiên.
Sau có thơ khen rằng:
Từ thuở cha ông thuở Hồng Hoang.
Anh Linh truyền xuống nước Văn Lang.
Tiên Rồng nòi giống uy Linh ấy.
Khí phách hùng anh ngút mây ngàn.
Truyền thống Anh Linh rền trời đất.
Quân thù cướp nước mộng tiêu tan.
Phương Nam rền mãi lòng
bất khuất.
Trung, hiếu, trải lòng khắp nước non.
Cao Hải nói, chúng ta là con cháu Tiên Rồng,
luôn luôn thừa kế những gì ông cha để lại.
Bổn phận làm con cháu như chúng ta, phải
hết lòng bảo vệ non sông Tổ Quốc, không để mất đi một tất đất, dù phải hy sinh
tính mạng.
Giặc Ân, giặc Hung Nô, giặc Hồ, chúng là
loài yêu tinh, quỹ dữ, chuyên hút máu người, và luôn có dã tâm xâm lược đất
chúng ta, chúng đã tràn qua, cướp của giết người, bắt dân ta làm nô lệ, ăn thịt
trẻ con, hảm hiếp con gái, đàn bà, phụ nữ, vơ vét của cải, con gà con chó chúng
chẳng tha, dân chúng khiếp sợ trốn chạy, bệnh tật, đói, rét, chết khắp nẻo
đường, cha mất con, vợ mất chồng, mối thù xâm lược nầy chúng ta bắt chúng phải
trả, chúng đã dẩm chân lên quê hương tổ quốc chúng ta, thời chúng không còn cơ
hội để mà trở về, thân xác của chúng phải đổ xuống làm phân cho đất phương Nam.
Chúng ta không thể đứng nhìn mà phải chiến
đấu thật anh dũng. Chiến đấu quên mình, chiến đấu vì muôn dân, chiến đấu vì non
sông tổ quốc.
Đã ra
quân thời quyết tử, các tướng nói theo đã ra quân thời quyết tử, đã ra quân
thời quyết tử.
Cao Hải ra lịnh.
Bố Chính
Ngô Việt, nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân dẫn 5 nghìn quân, tấn
công vào Nam doanh trại của quân Hung Nô, đi ngay trong đêm nay, âm thầm lặng
lẽ khi trời sáng thời cho quân ẩn núp thật kín đáo, cách xa doanh trại chúng
chừng khoảng 20 dặm, không cho chúng phát hiện ra chúng ta, chờ đêm xuống chúng
ta duy chuyển quân nhanh chóng, bất ngờ tấn công vào Nam doanh trại của chúng,
tiêu diệt sạch, đốt sạch, tiến quân ra bao vây tiêu diệt quân Hung Nô, tuân
lịnh.
Phan Thanh
Hải, nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân dẫn 5 nghìn quân tấn
công vào Tây doanh trại quân Hung Nô, đi ngay trong đêm nay, âm thầm lặng
lẽ khi trời sáng thời cho quân ẩn núp
thật khéo léo kín đáo, phải đảm bảo an toàn bí mật cách xa đoanh trại chừng 20
dặm chờ đêm xuống chúng ta duy chuyển quân nhanh chóng bất ngờ tấn công vào
doanh trại tiêu diệt gọn đốt sạch, rồi kéo quân phục kích đường mòn chận đánh
đường rút lui của chúng, tuân lịnh.
Trương Việt
Hàn, nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân dẫn theo 5 nghìn quân, bí mật
đi đường vòng bọc xuống phía Đông, vượt qua địa giới thành Xích Linh, khi trời
sáng thời cho quân ẩn núp kín đáo, cách xa doanh trại chừng 20 dặm không cho
chúng phát hiện ra chúng ta, đêm xuống thời duy chuyển quân nhanh chóng bất ngờ
tấn công vào Bắc doanh trại quân Hung Nô, tiêu diệt sạch, đốt sạch, rồi kéo
quân ra phục kích những đường mòn tiêu diệt quân hổn loạn tháo chạy của chúng, tuân
lịnh.
Ngô Việt Tiên
nghe lịnh, có thộc hạ.
Tướng quân thống lãnh 2 vạn quân, từ phía
tây đánh xuống phía sau lưng địch, dồn
chúng vào chân tường thành Xích Linh, tha hồ mà chém giết, tuân lịnh.
Nguyên Hạo
Hạo nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân thống lãnh 2 vạn
quân từ phía Đông đánh thọc lên, bao vây tiêu diệt chúng, tuân lịnh.
Còn ta thống lãnh 3 vạn quân từ phía Nam
sau lưng chúng đánh tới.
Nói về các Tướng Lĩnh sau khi nhận lịnh âm
thầm lặng lẽ triển khai lực lượng, di chuyển trong đêm, theo kế hoạch đã dự
định, quân Hung Nô không hề hay biết gì cả,
chờ đêm xuống là đồng loạt tấn công.
* * *
Đây nói về quân Hung Nô chỉ lo tập trung
lực lượng công phá thành, vì chưa nắm bắt được thông tin quân chủ lực Văn Lang
đã đến, nên không có sự đề phòng, quân Văn Lang lại vô cùng bí mật di chuyển.
Quân Hung Nô công phá thành ba ngày mà
không chiếm được, lại hao quân tổn tướng rất nhiều, đi tiêu ba vạn, Hung Nô Vương
sôi gan, hộp hai con cùng các Tướng lĩnh, bàn kế sách chiếm cho được thành Xích
Linh nội trong một đêm một ngày.
Hung Đa Di nói, hãy huy động toàn lực
lượng thang giây, và nhiều phương tiện công phá thành khác, dồn hết tấn công
vào đêm nay, sáng mai là chiếm lấy thành Xích Linh. Hung Quân Liệt nói, hãy triệu yêu tinh, quỉ dữ đến làm phép yểm trợ
cho quân ta, làm cho mù trời mù đất chúng không thấy được quân ta, chúng ta mới
ồ ạc xông lên chiếm lấy thành nhanh chóng. Hung
Nô Vương khen con nói phải. Thế là trong đêm hôm đó quân Hung Nô dốc toàn
lực lượng, công thành có sự yểm trợ của yêu tinh quỉ dữ.
Ánh dương quang đã chìm lần trong đêm tối.
Tiếng rĩ rả côn trùng, tiếng rì rào của gió, mãi rì rầm than thở liên miên,
giọt sương còn chưa tượng hình thành.
Thời bầu trời bổng nhiên đen ngòm, tối mù
tối mịt, đèn đuốc trên thành tắt ngúm hết thảy.
Quân Hung Nô ào ào leo lên thành như nước
tràn lên đê, trong đêm tối quân Xích Linh chém lớp nầy chúng ào lên lớp khác,
không còn cách gì chống trả lại nổi.
Trong tình thế nguy cấp cấp
ấy.
Thời thấy ba doanh trại quân Hung Nô bốc
cháy ngùn ngụt, lửa đỏ rực cả bầu trời, quân reo dậy đất, cùng lúc ấy cuồng
phong mây đen cũng tan biến hết, quân Hung Nô khiếp hoảng khi nghe tiếng tù rút
quân bỏ chạy, bị quân Xích Linh chém,
bắn, xối xả chết la liệt, nằm dày trên mặt thành. Thấy quân Hung Nô rối loạn
không leo lên tường thành nữa, theo còi lịnh quân Xích Linh mở cổng thành lao
ra chém quân Hung Nô như chém chuối.
Về sau có thơ rằng:
Tiếng quân reo dậy trời dậy đất.
Chiêng, trống rền khiếp vía Hung Nô.
Đùng đùng đao kiếm như mưa.
Ầm ầm trận địa khiếp kinh hãi hùng.
Giặc Hung Nô bịt bùng gươm giáo.
Đạp lên nhau chạy tháo, chạy chui.
Tên bay, lao, giáo, khắp nơi.
Hung
Nô bỏ mạng ôi thôi khắp cùng.
* * *
Một trận chiến lẫy lừng sông núi.
Quân Hung Nô khiếp vía hồn kinh.
Tiên Rồng nào phải dễ xơi.
Tàn đời xâm lược ôi thôi tàn đời.
Cờ đại nghĩa ngời ngời chiến thắng.
Quân Hung Nô phơi xác như non.
Đáng đời lũ giặc ngoại xâm.
Đáng đời lũ giặc vùi chôn đáng đời.
* * *
Nói về quân Hung Nô bại trận chạy sống chạy
chết khi không còn thấy quân Văn Lang rượt đuổi nữa, thời mới cho quân dừng
nghĩ.
Hung Nô Vương
than vắn thở dài, quân Văn Lang là quân Trời,
mới lợi hại như vậy, điểm lại quân binh thời chết hơn phân nữa, Hung Nô Vương
cứ than thở mãi.
Bổng thấy quân binh lao tới,
Hung Nô Vương kinh hãi, tưởng là quân Văn Lang đuổi theo, chừng khi nhìn kỷ thời
không phải, đó là tàn quân của Hung Đa Di, và quân của Hung Quân Liệt, cha con
gặp nhau than thở không thôi,
Hung Quân Liệt, nói không hiểu quân Văn Lang ở đâu ra mà đông đến thế, chạy chỗ nào
cũng gặp phải quân Văn Lang. Thật ra quân Văn Lang chỉ có 10 vạn mà thôi, chỉ
khéo chủ động, bày binh bố trận, làm cho quân địch hoang mang khiếp sợ, cứ tưởng
như hàng mấy mươi vạn quân.
Trong chiến tranh, kẻ nào nắm
chủ động, về tâm lý, chủ động về bày binh bố trận, chủ động về trận chiến, chủ
động đường tiến lui, hiểu rõ về quân địch, mà địch chẳng hiểu rõ gì về mình,
chủ động trong mọi tình huấn, chủ động trong mọi thời cơ. Thời coi như phần
thắng đã thuộc về mình, quân Hung Nô có
hơn 30 vạn quân chỉ thua một trận mà đi tiêu hơn phân nữa, giờ chỉ còn, không
đầy 15 vạn quân, Hung Nô Vương mất hết ý chí xâm lược, hai người con Hung Nô
thấy vậy liền khuyên, còn nước còn tác cũng cố lại lực lượng hợp với quân Ân,
tiêu diệt quân Văn Lang, Hung Nô Vương
như có tia sáng liền cho người thám thính quân Ân thắng bại ra sao rồi hể tính.
*
* *
HỒI
MƯỜI LĂM
BẠI LỘ CƠ MƯU
Đây
nói về tình hình chiến sự Ninh Giao Châu,
Lạc Đại Vương, Hầu Thái Công, Nguyên Dực, cùng các Tướng Lĩnh, bàn bạc đưa
ra nhiều giải pháp ưu việt nhất, hiệu quả nhất, tiêu diệt quân Ân, quân Hồ.
Nào hay trong lúc bàn bạc, có hai con yêu
tinh ẩn mình nghe lén, những cơ mật binh pháp, đây là một tổn thất lớn, có thể nói ván cờ đã bại lộ, đưa đến thất bại
mà không hay biết gì cả.
Sát Sát nương nương là tay xão quyệt,
nắm bắt tất cả cơ mật thông tin của quân Văn Lang, nhưng làm ra như mình không
hay biết, quân binh không động đậy gì cả. Nhưng thật ra Sát Sát đã triển khai
quân binh hết rồi, Tướng soái Nguyên Dực, nắm bắt được thông tin cuối cùng là
quân Ân chưa xuất binh.
Nguyên Dực cùng các Tướng rời khỏi thành Ninh Châu trở về doanh
trại, triển khai lực lượng, điều động quân binh, theo kế sách đã thống nhất chung,
chia quân làm ba đạo quân Một đạo quân đến đồi Vạn Lâm phục kích. Một đạo quân
bọc về hướng Đông vượt qua đồi Vạn Lâm, đánh bọc sau lưng chận đường rút lui
của giặc. Một đạo quân chủ lực bọc về hướng Tây vượt qua khỏi đồi Vạn Lâm, chận
đứng đường tháo chạy quân Ân, rồi tiến thẳng chiếm lại thành Kinh Châu, khí thế
ra quân với niềm tin chiến thắng.
Nói
về Hầu Tướng Quân, theo lịnh của chủ
soái Nguyên Dực, thống lãnh 5 vạn quân tức tốc lên đường trong đêm tối, đến đồi
Vạn Lâm phục kích, trước khi trời sáng hầu tránh tai mắt quân Ân phát hiện.
Khi
đạo quân đến gần đồi Vạn Lâm, thời thấy âm khí nặng nề, sương rơi lớp lớp, cơn
gió âm u như mang đầy sự chết chóc, hầu Tướng quân bổng rùng mình như linh cảm
có chuyện không may.
Số mệnh huyền cơ Trời đã định.
Văn Lang tai nạn bởi
nghiệp xưa.
Hồn giặc phiêu phiêu trong gió bụi.
Che chở giặc Ân hóa gió mưa.
Đồi
Vạn Lâm cây cối rậm rạp, sương mù dày đặc, che chắn cả tầm nhìn.
Sao
mai đã mọc, nhưng màng đêm vẩn còn u tối, đại quân vừa tiến vào đồi Vạn Lâm, thời
có tiếng nói.
Hầu Tướng Quân sao tôi linh
cảm như có điều không may, chúng ta không nên tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, hãy cho
người thám thính thử xem.
Người vừa lên tiếng đó chính
là nữ Tướng quân, Chăm Ly,
Nữ Tướng tài năng quân Văn
Lang.
Hầu
Tướng Quân, nghe Chăm Ly nói cũng phải, liền cho người đi sâu vào đồi Vạn Lâm
thám thính.
Quân thám thính xong rồi trở
ra báo, bẩm tướng quân ngoài sương mù
dày đặc ra, thời không có động tịnh gì cả,
Hùng Tướng Quân nghe báo cáo
như thế thời hơi an tâm.
Đạo quân tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, cả một khu
đồi rộng lớn như thế, mà yên tỉnh lạ lùng. Chăm Ly nói theo kinh nghiệm của tôi,
đáng lý ra giờ nầy thời nhiều loài chim đã thức giất, chúng ríu ra ríu rít, nhiều
loài thú đã đi ăn, nhưng đồi Vạn Lâm nầy cây cối vô cùng rậm rạp thế mà im
tiếng lặng hơi.
Hầu Tướng Quân cũng thấy nghi nghi, nhưng
đã kéo quân vào không lẽ lui quân trở ra, có lẽ chúng ta đa nghi quá cũng nên,
thế là đạo quân vẩn tiếp tục tiến sâu vào đồi Vạn Lâm, đường sá quanh co rậm
rạp, nhưng không có việc gì xảy ra, đồi rừng vẩn im lặng, một sự im lặng kỳ lạ
vô cùng,
Khi đạo quân đã vào hết đồi
Vạn Lâm, Hùng Tướng Quân mới thở phào nhẹ nhổm nói, chúng ta đa nghi quá nào có
thấy gì đâu, Hùng Tướng Quân ra lịnh hãy tìm nơi ẩn núp,
Lúc
bấy giờ sương chưa tan vẩn còn che chắn tầm nhìn, trên vài mươi thước thời
không thấy gì cả, huống chi là rừng rậm.
Bổng
nghe tiếng tù khai trận nổi lên inh ỏi, Hầu Tướng Quân kinh hồn bạc vía, Chăm Ly
thét lớn có quân mai phục. Hầu Tướng Quân ra lịnh rút lui, rút lui.
Quân binh tức thời hổn loạn, dồn ép nhau thậm
chí đạp lên nhau mà chạy, hai bên đường tên bắn ra như mưa trút, quân Văn Lang càng thêm hoảng loạn, bị trúng
tên chết vô số kể, hầu tướng quân thét lớn phá vòng vây rút lui.
Nhưng quân Ân đã tràn ra,
chém giết quân Văn Lang, biết không còn rút lui được nữa,
Chăm Ly thét lên lấy lại bình tỉnh xông vào quyết tử với quân
thù, tiến lên, tiến lên, tử chiến tử chiến, thế là quân binh bình tỉnh xông vào
quyết tử với giặc Ân, trận chiến xảy ra long trời lở đất. Sau có thơ khen rằng:
Tìm cái sống trong đường tơ kẽ tóc.
Chí hùng anh lớp lớp xông lên.
Dù ngã xuống nhưng linh hồn bất tử.
Hãy tiến lên nào ta hãy tiến lên.
Quân Ân không ngờ quân Văn Lang anh dũng
như vậy, anh dũng chống trả quyết liệt, lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên. Nữ
Tướng Chăm Ly như con Phụng Hoàng
tung bay trên đầu bầy sói, đường gươm như mưa sa bão táp, chém rối xả xuống
quân thù, quân Ân rơi đầu lớp lớp.
Về sau có thơ khen rằng:
Nữ tướng tài cao được mấy người.
Đường gươm vun vút chém quân thù.
Thây người ngã gục ôi kinh khiếp.
Anh linh hào kiệt rạng muôn thu.
Chăm Ly vừa chém quân thù vừa gào thét, Tướng quân phá vòng
vây thoát đi, để tôi chận đứng chúng, tức thời múa gươm chém tới ầm ầm, phá
vòng vây cho Hầu Tướng Quân chạy thoát:
Về sau có thơ khen rằng.
Một mình tả đột hửu xông.
Mở đường cứu Tướng má hồng máu tuôn.
Đường gươm như ánh sao đêm.
Chớp lòa vun vút chém bay đầu thù.
Hầu Tướng Quân
rơi nước mắt, thét lên một tiếng như
sấm nổ, múa đao lao vào chém giết quân Ân.
Về sau có thơ khen rằng:
Cái chết gần kề có sợ chi.
Chết vì trung hiếu chết uy nghi.
Đường đao trung dũng đầy khí phách.
Tung hoành gào thét chết sá chi.
* *
*
Đã chết thời chết một
lần
Chết cho non nước thêm phần uy linh
Hy sinh đến lúc hy sinh
Trải lòng trung hiếu còn chi vui bằng
Tướng lĩnh quân Ân là Võ Vu, thấy Tướng nữ Văn Lang vô cùng xinh đẹp, có ý bắt sống về
làm đồ chơi.
Bằng sai Tiểu Hổ, ngươi xông xa bắt con nhãi đó cho ta, Tiểu Hổ hiểu ý Chủ Tướng, bằng nói Tướng quân
xài ớn rồi giao cho thuộc hạ.
Tiểu Hổ, từ nơi ẩn núp phóng ngựa lao ra, múa giáo chém tới Chăm Ly.
Chăm Ly đang hăng say chém giết quân Ân, nghe tiếng hét sau
lưng, lại nghe có gió giáo chém tới, liền nhanh như chớp lách người cả ngựa né
tránh.
Tiểu Hổ vốn là tay háo sắc, đánh những đoàn
chí tử nhưng không nguy hiểm, vì y muốn bắt sống Chăm Ly.
Chăm Ly lúc nầy đâu còn nghĩ
gì đến cái chết, mỗi đường gươm là mỗi đường thí mạng, lợi hại vô cùng, Tiểu Hổ
vì quá háo sắc, Chăm Ly chém rơi đầu.
Về sau có thơ khen rằng:
Ghê thay nữ tướng anh hùng.
Trước bầy sói dữ tung hoành xông pha.
Đường gươm như ánh sao sa.
Quân thù bỏ mạng khiếp kinh quân thù.
Võ Vu nhìn thấy nữ Tướng Văn Lang lợi hại như vậy, không còn
mơ tưởng đến làm đồ chơi nữa, bằng ra lịnh bắn chết nữ Tướng kia cho ta.
Tức thời hàng trăm hàng nghìn mũi tên lao
tới, găm đầy mình như lông nhím, trước khi chết Chăm Ly hét lên một tiếng, đường gươm vun vút chém vào quân Ân,
giết luôn một lúc mười tên nữa, vì sao Chăm Ly găm tên đầy mình mà không chết
liền, là nhờ áo giáp đồng Trước cái chết đầy anh dũng của Chăm Ly.
Về sau có thơ khen rằng:
Trước lúc chết đầy hào hùng khí phách.
Đầy hiên ngang lòng bất khuất biết
bao.
Thân ngã xuống, nhưng tâm
hồn không ngã.
Mãi sáng ngời như muôn vạn vì sao.
* * *
Sao mai đẹp mãi vì sao.
Chăm
Ly, đẹp mãi muôn thu sáng ngời.
* * *
Nói về Hầu Tướng Quân thấy Chăm Ly anh
dũng hy sinh, liền quát lên một tiếng, múa trường đao chém tới tấp vào quân
thù,chém quân Ân như chém chuối.
Võ Vu Tướng giặc Ân kinh hãi, hét lớn bắn chết Tướng Văn Lang
kia cho ta, quân theo lịnh tập trung bắn Hầu
Tướng Quân, Hầu Tướng Quân trúng tên đầy mình, trước khi chết trường đao
vẩn chém xuống quân thù quân Ân khiếp vía kinh hoàng.
Về sau có thơ khen rằng:
Hầu tướng anh hùng khiếp ngoại xâm
Sá gì cái chết nhẹ hơn
lông
Trung hoành ngang dọc xông pha chém
Kinh hồn bạc vía lũ giặc Ân
Nói về quân Văn Lang như rắn
mất đầu, thi nhau phá vòng vây bỏ chạy, năm vạn quân chỉ còn hơn một vạn, chạy
trốn thất lạc khắp mọi nơi.
Thắng bại xưa nay quá rõ thì.
Cơ mưu bại lộ hết đường đi.
Bị động khó mong giành chiến thắng
Sữ chép để đời có sai chi
HỒI
MƯỜI SÁU
BẠI TRẬN
Cơ mưu bại lộ
thật đớn đau.
Sa vào cạm bẫy chết thảm sầu.
Cơ Trời vận hóa còn đen thẩm.
Kiếp nạn truyền miên trước lẫn sau.
Đây nói về Việt Luân Tướng Quân, thống lãnh 5 vạn quân bọc theo hướng Đông
theo sự chỉ đường quân Ninh Châu, đạo quân đi đến gần sáng, khi đạo quân đi
qua. Huyện Ninh Điền, bổng có một luồng gió lạ thổi đến, làm gãy cây cờ
chủ lực quân Văn Lang, ai nấy đều thất kinh, không hiểu là chuyện gì sắp xảy
ra, địa phận Huyện Ninh Điền, không
những dân thưa thớt, cây cối um tùm rậm rạp, khó mà phát hiện ra quân ẩn núp,
lại thêm sương mù dày đặc, che chắn cả tầm nhìn, vượt qua Huyện Ninh Điền, thời
coi như đã vượt qua khỏi đồi Vạn Lâm.
Việt
Luân Tướng Quân, định cho đạo quân vượt qua khỏi Huyện Ninh Điền, thời cho
quân dừng nghĩ ẩn núp tại đây, mới cho người thám thính động tỉnh của quân Ân.
Lúc nầy trời cũng đã hừng
hừng sáng, sương mù còn dày đặc chưa tan, đạo quân đang đi qua những chỗ hiểm
địa, thời cây cối hai bên đường bổng
rung động, tức thời tiếng tù khai chiến nổi lên.
Việt Luân Tướng Quân thét lớn có quân mai
phục, có quân mai phục, mau vượt qua nơi hiểm địa, nhưng không còn vượt lên
được nữa.
Hai bên đường hiểm địa tên bắn ra như mưa,
quân Văn Lang vô cùng hổn loạn. Bổng thấy một vị Tướng phi ngựa tới chỗ Việt
Luân Tướng Quân nói, quân địch đã bao vây tất cả, chúng ta đang kẹt trong các
chỗ hiểm địa, chỉ còn tử chiến với chúng mà thôi.
Việt Luân
Tướng Quân lấy lại bình tĩnh ra lịnh
cho toàn quân xông lên tử chiến, quân Văn Lang lấy lại bình tĩnh không còn rối
loạn nữa, chiến đấu chống trả quyết liệt, xông lên tấn công quân Hồ.
Về sau có thơ rằng:
Thế cùng đường còn chi để mất.
Nào xông lên càng quét quân thù.
Đã vào trận kể gì sống chết.
Hãy xông lên gào thét xung phong.
Nói về Hồ man quân thấy quân văn lang
lọt vào hiểm địa vòng vây, thời coi như nắm chắt phần thắng, tha hồ mà chém
giết quân Văn Lang, Hồ Man Quân khoan khoái vô cùng, Hồ Man Quân ra lịnh tấn
công, quân Văn Lang bất ngờ kinh hoàng khiếp vía, hổn loạn bị trúng tên chết
thôi là chết, không ngờ chiêng trống quân Văn Lang nổi lên, ngựa hí quân reo dậy
đất, không còn rối loạn nữa, xông lên tử chiến, không còn biết sợ chết là gì
nữa.
Quân Hồ bất ngờ trước tinh thần anh dũng
của quân Văn Lang, bị quân Văn Lang lao đến chém tơi tả.
Hồ
Man Quân kinh hoảng trước dũng khí anh hùng của quân Văn Lang, bằng thúc
quân giao đấu.
Quân Hồ đã lợi thế, mà còn
chủ động trận địa, nên dù quân Văn Lang anh dũng mấy cũng khó mà chuyển xây
tình thế được. Trận địa kéo dài cho tới giữa trưa, quân Hồ đi tiêu ba vạn, quân
Văn Lang không còn một mạng.
Hồ Man Quân tuy thắng trận nhưng vẩn còn
khiếp vía, nhìn lên trời than thở quân Văn Lang là quân Thần quân Thánh, thảo
nào hai trăm năm về trước quân Ân đã thất bại,
không còn gì nghi ngờ nữa.
Hồ Man Quân,
như muốn tiêu tan mộng xâm lược Văn
Lang, Hồ Man Quân thắng trận những bao nổi ê chề, đứt tiêu hơn ba vạn quân, thắng
mà chẳng khác gì thua, thắng mà khiếp sợ trước quân Thần, quân Thánh, sự anh
dũng không một người chạy trốn, không một người đầu hàng, chiến đấu tới hơi thở
cuối cùng, Hồ Man Quân đây là lần đầu tiên nhìn thấy tinh thần chiến đấu, tinh
thần quyết tử, cho Tổ Quốc quyết sinh của quân binh Văn Lang, đáng nể phục,
đáng khiếp sợ, Hồ Man Quân nghĩ không hiểu những gì sẽ xảy ra đối với Địa Linh
Sinh Nhân Kiệt nầy.
*
* *
Đây nói về Bạch Tướng Quân dẩn theo 5 nghìn quân theo bảo vệ đội quân vận
chuyển lương thực, hể nghe tin có trận giao chiến ở đồi Vạn Lâm, thời kéo quân
tới yểm trợ.
Đội quân vận chuyển lương
thực đi chậm, sương mù xuống ước cả áo, tiếng gà rừng gáy như báo hiệu trời sắp
hừng sáng. Một nổi buồn như len lỏi vào
linh hồn quân binh, không hiểu nổi buồn
vì quê hương Tổ Quốc đang bị ngoại xâm dày xéo thảm thê, hay là nổi buồn vì nhớ
nhà khi nghe tiếng gà gáy, gọi cả đàn thức dậy, vui vầy bên nhau một ngày mới.
Bạch Tướng Quân đang đi linh cảm như đang
có trận giao tranh, ở tận xa xa không lẽ đồi Vạn Lâm đã vào chiến trận, sao
không đúng như dự định theo kế sách đã bàn, liền sanh nghi cho quân vận chuyển
lương thực dừng lại, liền cho người thúc ngựa nhanh chóng đến đồi Vạn Lâm nắm
bắt tình hình, không bao lâu người đó trở lại nói đồi Vạn Lâm đánh nhau rồi.
Bạch Tướng Quân linh cảm như là có chuyện
không may, liền cho quân tản ra phục kích, chỉ còn một số ít binh lính đang
dừng nghĩ bảo vệ đoàn xe lương thực. Bổng
nghe từ phía sau lưng, tiếng vó ngựa dồn dập mỗi lúc một rõ, Bạch Tướng Quân
đoán chắc đó là tiếng vó ngựa của giặc từ sau đánh bọc tới cướp lấy tất cả
lương thực.
Bạch Tướng
Quân ra hiệu lịnh khi nào địch lọt
vào lưới mai phục thời mới tấn công.
Nói về Hổ Tiên Tướng giặc Ân dẫn theo 5 nghìn quân, nhanh chóng lên đường
đánh bọc hậu cướp lấy lương thực vận chuyển quân Văn Lang, Hổ Tiên nắm bắt được
thông tin tình báo là đoàn quân vận chuyển lương thực quân Văn Lang đã đến
Huyện Gia Lâm.
Hổ Tiên nói như vậy đoàn vận chuyển lương
thực đã vượt qua chúng ta rồi, chúng ta từ phía sau bất ngờ đánh tới. Do sương
mù che chắn tầm nhìn, quân Ân chỉ thấy trước mắt là đoàn quân vận chuyển lương
thực đang dừng nghĩ, chớ không thấy được số người, cứ nghĩ đây chính là cơ hội
cho chúng bất ngờ tấn công, nếu đoàn quân vận chuyển lương thực có phát hiện
thời cho đó là quân Văn Lang mà thôi. Hổ Tiên thúc năm nghìn quân lao vào chém
giết, nhưng đến khi phát hiện là không có bao nhiêu người, chỉ toàn là xe lương
thực, thời thất kinh.
Bổng thấy pháo lệnh tử chiến, quân Ân
chưa kịp trở tay, thời tên giáo lao, bắn phóng ra như mưa, chiêng trống nổi lên
rền trời rền đất, quân Ân bất ngờ trúng tên chết lớp lớp, quân Ân rối loạn chạy
loạn xạ, bị quân Văn Lang hạ gục dễ dàng, quân Văn Lang thắng thế xông lên gươm, đao, giáo, mác, ào
ào chén tới như mưa, ngựa người quân Ân dẩm đạp lên nhau phá vòng vây mà chạy.
Hổ Tiên khiếp quá tìm đường tẩu thoát, bổng
nghe một tiếng quát như sấm, chạy đâu cho thoát xem đây, Hổ Tiên nghe tiếng gió
đao chém tới, tức thời múa trường giáo lên chống đở, choang đinh tai nhứt óc, Hổ
Tiên cả người lẩn ngựa muốn ngã quỵ, không hiểu người nào mà thần dũng đến thế.
Hổ Tiên thấy người chém mình là một dũng
tướng to lớn, mặt vuông, mắt sáng, mình mặt giáp đồng, đầu đội kim khôi, oai
phong lẩm liệt, thảo nào mà chẳng có sức mạnh kinh người, người chém Hổ Tiên
một đao như trời giáng đó chính là Bạch Tướng
Quân, Hổ Tiên biết đánh không lại phóng ngựa chạy tẩu thoát. Nhưng chạy đâu
cho thoát hàng loạt mũi tên bắn trúng đầy mình, nhào xuống ngựa mà chết, quân Ân như rắn mất đầu, quân Văn Lang tha hồ
mà đâm mà chém. Về sau có thơ khen rằng:
Một trận chiến đầy mưu mô khôn khéo.
Thời lo gì không chiếm được thương phong.
Đường chiến thắng phải dựa trên mưu trí.
Đạp quân thù như đạp cỏ dưới chân.
Mặt trời lúc nầy đã lên cao, nhưng che
khuất bỡi thời tiết âm u cái lạnh đã làm cho con người mau đói.
Bạch Tướng Quân không còn
nghĩ gì đến sự ăn uống nữa, tức tốc điều động năm nghìn quân, tức tốc đến đồi
Vạn Lâm, thời lúc nầy trận chiến đã dừng hẳn, thấy xa xa trước mắt quân binh
Văn Lang đang chạy thục mạng, mạnh ai nấy chạy không đoàn, không toán gì cả,
thời đã biết quân Văn Lang đã thất trận.
Bạch Tướng
Quân cho bắn pháo hiệu là đã có quân
cứu viện đến nơi, quân Văn Lang đang thất lạc chạy trốn thấy pháo cứu viện,
liền cùng nhau chạy đến, người nào người nấy thở muốn hụt hơi, lăng dùng ra
ngồi dậy hết nổi.
Nói về quân Ân tuy thắng trận, nhưng cũng
đi tiêu hơn một vạn quân, nên không đuổi theo quân Văn Lang bỏ chạy, mà chỉ ra
khỏi đồi Vạn Lâm chờ lịnh, Những
tốp quân binh Văn Lang chạy trốn sợ sự truy đuổi quân Ân, bổng thấy hiệu lịnh cứu
viện quân Văn Lang tất cả đều kéo tới hết, tính đi tính lại chỉ còn hơn một vạn
quân, đi tiêu bốn vạn quân.
Bạch Tướng Quân liền hiểu rõ tất cả quân ta đã lọt hết vào ổ mai phục của chúng, nên
mới thất trận thê thảm như thế nầy, các Tướng đều chết sạch, chỉ còn quân binh không,
Bạch Tướng Quân cho người
thám thính cánh quân bọc hướng Đông của Việt
Luân Tướng Quân.
Không bao lâu thời quân thám
báo kinh hãi về báo.
Bẩm Tướng Quân, quân ta đã
chết sạch không còn một mạng tại Huyện Ninh Điền hết rồi.
Bạch Tướng Quân kinh hoàng, nghĩ quân Ân
lợi hại đến thế sao, biết không thể nào đánh lại quân Ân, nên đành rút quân trở
về Ninh Giao Châu, cũng cố lại lực
lượng.
* * *
HỒI MƯỜI
TÁM
ĐẠI CHIẾN QUÂN ÂN
Đây nói về chủ soái Nguyên Dực, thống lãnh hơn 10 vạn quân bọc theo hướng Tây đồi Vạn Lâm,
chận đánh đường rút lui quân Ân, rồi thẳng xuống Đông Bắc, chiếm lại thành Kinh
Châu.
Đại quân bọc Tây cách đồi Vạn Lâm hơn 15
dặm thời nghe như có trận chiến, những người có nội công thâm hậu mới có cảm
giác nghe được.
Nguyên Dực lấy làm lạ tự hỏi không lẽ đồi Vạn Lâm đã xảy ra trận
chiến, Nguyên Dực nghĩ không thể như thế được, nếu có trận chiến xảy ra phải
đến chiều mai, quân Ân mới đến được đồi Vạn Lâm, không thể sớm như vậy được, lại
nữa trời đã hừng sáng, Đại quân cũng sắp qua khỏi địa phận Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, đến
Huyện Nam Tây Sơn Kinh Châu, trong lòng Nguyên Dực cứ mãi không yên, liền cho quân dừng nghĩ, cho hai toán quân đi
thám thính, một là thám thính địa phận Huyện
Tây Sơn Kinh Châu, hai là thám thính
Đồi Vạn Lâm, xem chuyện gì đã xảy
ra.
Chủ soái Nguyên Dực hỏi các
tướng có nghe thấy gì không, có người
nói không nghe thấy gì cả, có người nói hình như có trận chiến xảy ra.
Hai toán quân thám báo đi chưa được bao
lâu thời liền quây trở lại, cấp báo bẩm chủ soái đồi Vạn Lâm đã xảy ra trận
chiến, không biết thua thắng thế nào, toán quân thứ hai báo, bẩm chủ soái quân
Ân cờ xí rợp trời đã vượt qua Huyện Tây Sơn tiến đánh chúng ta.
Chủ Soái
Nguyên Dực ra lịnh, hãy bày binh bố
trận, hiệu lịnh cờ trận phất lên, tức tốc đại quân duy chuyển chiếng trống nổi
lên đại quân nhanh chóng lập thành ngũ hành trận, trung ương trận liền dựng lên
một cái đài cao bảy thước, chủ soái Nguyên Dực trực tiếp chỉ huy.
Đài
vừa dựng xong thời quân Ân cũng vừa kéo đến, cờ xí rợp trời, dẫn đầu là một Tướng
nữ trung niên vô cùng xinh đẹp, Nguyên Dực hỏi biết nữ Tướng đó là ai không?
tức thời có người đáp, nhìn
lá cờ lớn có hai chữ Sát Sát, thời cũng biết nữ Tướng trung niên xinh đẹp kia
là vợ lớn của Ân Mao Vương, Ân Mao Vương có hai người vợ vô cùng lợi hại, khắc
tiếng nước Man Du, đó là Sát Sát Ân Nương Nương, và Nghịch Phong Ân
Nương Nương.
Người hiểu rõ về nữ Tướng
giặc Ân đó là ai vậy, không ai khác hơn là Hầu
Thái Công.
*
* *
Đây nói về Sát Sát nữ Tướng giặc Ân, rầm
rầm rộ rộ kéo quân tới, thấy quân Văn Lang đông như kiến, đã bày
binh bố trận xong xui, sát
khí trùng trùng.
Sát Sát nói hỏi đây có phải là ngũ hành
trận nổi tiếng mấy nghìn năm của quân Văn Lang không, đã từng đánh bại nhiều
quân xâm lược có phải không?
Có một vị Đạo Sĩ mặt xanh râu
dài nói, bẩm Nương Nương quả đúng đây là trận ngũ hành, không dễ gì phá được, quân
binh chuyển biến khó lường.
Sát Sát nói không phá cũng phải phá, ngươi
thử ước lượng phá trận ngũ hành nầy cần bao nhiêu quân, bẩm Nương Nương phải
trên 15 vạn quân, ba vạn quân đánh một cửa, 12 vạn quân đánh bốn cửa, còn ba
vạn quân thời đánh vào nơi trọng yếu của ngũ hành trận.
Sát Sát nghĩ mình có hơn 8 vạn quân thời
khó mà đánh, liền cho người đến đồi Vạn Lâm, điều động quân binh Võ Vu
bổ sung cho đủ quân số chịu trách nhiện đánh Đông ngũ hành trận. Lại
cho người tới Huyện Ninh Điền, điều động quân Hồ đánh vào cánh Nam ngũ hành
trận.
Sát Sát ra
lịnh, Hồ Phiên nghe lịnh, có thuộc
hạ, Tướng quân thống lĩnh ba vạn quân, chịu trách nhiệm đánh cánh Tây ngũ hành
trận, thuộc hạ tuân lịnh.
Tào Côn thống lãnh 3 vạn quân chịu trách nhiệm đánh Bắc ngũ
hành trận.
Nói
về Võ Vu tuy thắng trận ở đồi Vạn Lâm
nhưng cũng đi tiêu hơn một vạn quân, vẩn còn đang khiếp vía trước tinh thần
chiến đấu anh dũng của quân Văn Lang,
còn hai vạn quân rút ra khỏi đồi Vạn Lâm chờ lịnh.
Tính tới tính lui chỉ còn một
vạn rưởi quân là còn chiến đấu được, còn hơn năm nghìn quân bị thương tơi tả
không dùng được, thời thở dài quân Văn Lang quả là quân Thần, quân
Thánh, trong lúc đang thở
dài, thời có chỉ lệnh đưa đến, mau tức tốc đến Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, bổ sung quân cho đủ ba vạn chịu trách nhiệm đánh
cửa Đông ngũ hành trận quân Văn Lang.
Nói về Hồ Man Quân tuy thắng trận nhưng cũng đi tiêu mất hai vạn quân, Hồ
Man Quân khi thống lãnh quân binh tràn qua đất Văn Lang, đánh đâu thắng đó một
cách dễ dàng, giết hơn mấy Vua Việt, chiếm lấy Châu, Huyện, một cách dễ dàng,
sanh ra kêu ngạo, không coi quân Văn Lang vào đâu. Không ngờ đụng phải quân chủ
lực Văn Lang, một loại quân anh dũng kiên cường, chiến đấu không khác gì loài
mãnh hổ. Tử chiến không bỏ chạy chiến đấu quyết liệt, coi cái chết nhẹ tựa lông
hồng. Tuy lọt vào vòng vây hiểm địa nhưng anh dũng đánh bật lại bất ngờ quân Hồ
kinh khiếp, bỏ mạng hơn hai vạn quân. Quả là quân Thần , quân Thánh.
Hồ
Man Quân được lệnh điều động quân đến Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, chịu trách nhiệm
đánh thẳng vào cánh Nam ngũ hành quân Văn Lang, Hồ Man Quân tức thời điều động
quân binh lên đường ngay, không bao lâu thời tới Huyện Bắc Sơn, đứng xa xa nhìn
thấy Nam trận ngũ hành sát khí trùng trùng, thời nghĩ thầm, phương Nam có trận
pháp ngũ hành lợi hại vô cùng, biến hóa khó lường, muốn phá trận ngũ đâu phải
dễ không kéo thời bỏ mạng như chơi. Bằng viết mật thư gởi cho Hồ Nghi Vương.
Đại ý mật thư nói rằng quân Ân liên kết
với quân Hồ ta, đã chiếm lấy thành Kinh Châu, đánh bại 5 vạn quân chủ lực Văn Lang ở đồi Vạn Lâm, quét
sạch 5 vạn quân chủ lực Văn Lang ở tại Huyện Ninh Điền, giờ lại tiến đánh phá
đại quân chủ lực Văn Lang tại Huyện Bắc Sơn Ninh Châu, thời coi như chiếm lĩnh toàn bộ Bắc Văn Lang.
Chúng ta nhân cơ hội phá trận nầy, chiếm
luôn thành Ninh Châu, trước quân Ân.
Nói về Hồ Nghi Vương lòng đầy tham vọng, hầu muốn nuốt nhanh chóng Tây Bắc
Văn Lang, chỉ cần nuốt được Kiến Châu, thời coi như đã nuốt trọn Tây Văn Lang,
nhưng chưa tìm ra cách chiếm lấy thành Kiến
Châu, vì thành Kiến châu kiên cố, lại có cha con Châu Phủ Châu An, tài giỏi nhất là Châu Tiên. Có pháp thuật thần thông cao
cường, lại thêm quân binh quyết lòng chống trả. Nên không dễ gì chiếm thành
trong ngày một ngày hai được. Hồ Nghi Vương
cũng không dại gì công phá thành, khi chưa nắm được phần thắng. Chỉ cần bao vây
thành Kiến Châu, thời thành Kiến Châu sớm muộn gì cũng vào tay mình.
Đang lúc cho người tôm gốp ngọc ngà châu
báu đã vơ vét từ các Quận Huyện, Châu Phủ, mười mấy xe, lúa gạo, trâu bò, dê
lợn, gà vịt, nhiều vô số kể, nhất là trẻ con thời không gì bằng, chúng nấu hầm
mà tẩm bổ, quân Hồ, quân hung Nô, uống máu ăn thịt người là chuyện bình thường. Trong lúc hai con mắt hau háu nhìn vàng bạc
châu báu ớn thời sang qua nhìn những cô gái tơ có vẻ khoang khoái lắm,
Gái tơ chính là sở thích của
yêu Hồ, tính đưa tay chụp một cô nỏn nà, thời có người vào báo.
Bẩm Chúa Vương, có người đưa thư đến.
Hồ Nghi Vương cho đòi người đưa thư vào,
đó là một quân thám báo thân cận của Hồ Man Quân.
Hồ Nghi Vương đọc xong ra chiều suy
nghĩ, rồi kêu Hồ Mị Hoa đến nói, con
thống lãnh 2 vạn quân tới trợ giúp cho chú con Hồ Man Quân, tiêu diệt quân chủ lực Văn Lang đang đóng ở Huyện Bắc
Sơn Ninh Châu.
Hồ Man Quân là em của Hồ Nghi Vương, phá
trận ngũ hành quân Văn Lang xong, nhanh chóng chiếm lấy thành Ninh Châu.
Hồ
Mị Hoa liền thống lãnh 5 vạn quân nhanh chóng đến Huyện Bắc Sơn, theo mật
thư của Hồ Man Quân.
* * *
HỒI MƯỜI CHÍN
ĐẠI CHIẾN QUÂN ÂN
Đây nói về chủ soái Nguyên Dực,
ở trên đài quan sát thấy quân Ân đang chuyển động quân binh, từ bốn hướng kéo
đến bốn cửa trùng trùng điệp điệp. Có lẽ chuẩn bị phá trận.
Tức thời phân bổ các Tướng thống lĩnh
quân binh trấn giữ ngũ hành trận, chuẩn bị cho trận chiến quyết tử cao độ nhất.
In Đô Tướng quân nghe lịnh, có thuộc
hạ.
Tướng quân cùng hai phó nữ Tướng
là La Ha, Tiên Ngung. Thống lãnh hai
vạn quân, chia làm chia làm năm đạo quân. Bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh,
giáp binh.
Trấn thủ tại trung ương hành
kim, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lịnh.
Lô Gô Tướng
quân nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân cùng hai phó Tướng
là Phô Rô, Cam Bô, thống lãnh hai
vạn quân, chia làm năm đạo quân, bộ binh,
Xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp
binh, trấn thủ tại trung ương hành mộc, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân
lịnh.
Lê Anh Tướng
quân nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân cùng hai phó Tướng
quân là Đoàn Minh, Hoàng Thi, thống lĩnh hai vạn quân, chia
làm năm đạo quân, bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp binh, trấn
thủ Trung ương hành thủy, lập
đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân lịnh.
Dương Điền
Tướng quân nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân cùng hai phó Tướng
quân là La Đôn, Kinh Hạ, thống lĩnh
hai vạn quân, chia làm năm đạo quân, bộ binh, xa binh, kỵ binh, xạ binh, giáp
binh, trấn thủ Trung ương hành hỏa, lập đài quan sát phất cờ chỉ huy, tuân
lịnh.
Lý Hiển Tướng
quân nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân cùng hai phó Tướng
quân là Trịnh Đức, Mai Phi, thống
lĩnh hai vạn quân, chia là năm đạo quân, bộ binh, kỵ binh, xa binh, xạ binh,
giáp binh, trấn thủ Trung ương hành thổ, chuyển hóa bổ sung, hổ trợ, những đạo
quân, kim- mộc- thủy- hỏa, khi yếu hơn thế lực của địch, theo hiệu lịnh của trung
ương tổng đài, tuân lịnh.
Từ thế trận ngũ hành, chuyển sang biến
hóa thế trận ngũ hành, tức thời sát khí trùng trùng, mây đen ngùn ngụt, cuồng phong
chuyển động, kỳ ảo lạ kỳ.
* * *
Đây nói về Sát Sát thống lĩnh quân Ân ở trên đài quan sát thấy ngũ hành trận
trong phút chốc biến hóa kỳ ảo như vậy, cũng phải kinh hãi.
Liền hỏi Đạo Sĩ mặt xanh râu dài, Đạo Sĩ
có biết phá trận ngũ hành nầy không?
Đạo Sĩ mặt xanh râu dài chính là thanh sư,
không những có pháp thuật mà còn biết nhiều hiểu rộng.
Thanh Sư nói. Thưa Nương Nương, trận ngũ hành lợi hại là do năm
ngọn cờ chính điều khiển chỉ huy, tùy theo trình độ của người chi huy mà lợi
hại, nên khó mà đoán được. Sát Sát nói, ta đã quan sát thấy mỗi chi ngũ hành
ước lượng chỉ có hai vạn quân. Còn ta có tới ba vạn quân, số lượng hơn chúng
quá lớn ta ra lịnh đồng tấn công một lượt, chỉ cần phá vỡ một chi ngũ hành,
thời nhất định trận ngũ hành trận sẽ bị phá vỡ ngay. Sát Sát lấy làm đắc ý cho
cách phá trận của mình, liền ra lịnh đồng loạt tấn công.
* * *
Đây nói về Trung tâm hành kim, tín hiệu
pháo lịnh đã bắn lên báo hiệu quân Ân bắt đầu tấn công.
Tức thời Trung ương hành kim trên đài
quan sát năm màu cờ bắc đầu chuyển động.
Nói
về Hồ Phiên, thống lãnh ba vạn quân,
thấy quân binh Văn Lang thưa thớt, chẳng có gì là lợi hại cả, ta chỉ cần năm
nghìn kỵ binh, năm nghìn xạ binh, năm nghìn bộ binh là đánh thủng vào Trung
ương ngay. Liền sai Tướng Ung Beo chỉ
huy năm nghìn bộ binh ào ào xông vào trận. Khí thế tràn vào như nước lũ, bộ
binh xông đến đâu thời quân Văn Lang dạt ra đến đó, tiến sâu vào hơn dặm, hò
hét dậy trời. Tướng giặc Hồ Phiên cười ngất, ta cứ nghĩ ngũ hành trận lợi hại lắm,
chẳng qua cũng thế thôi.
Bổng nghe chiêng trống nổi lên dạy trời, quân
reo dậy đất, mây đen cuồn cuộn, phủ tới, năm nghìn quân Ân không thấy đâu nữa,
chỉ nghe đao kiếm đinh tai nhứt óc.
Hồ Phiên ra lịnh tức thời năm nghìn
quân xạ tiển do Hốt Ma điều khiển ào
ào xông trận, quân binh lao vào như thác đổ, tìm quân dịch tấn công, nhưng
không thấy chi cả như lạc vào chốn hoang
vu.
Hốt Ma kinh hãi, đây là đâu sao kỳ lạ thế
nầy, trong lúc hoang mang thời bổng nghe chiêng trống dậy trời, thời thấy đội
quân thiết giáp trong mây đen xuất hiện cắt đôi năm nghìn quân xạ tiển, Hốt Ma
kinh hãi chưa biết phải làm sao thời thấy xuất hiện hai Tướng cỡi ngựa thiết kỵ
giáp lao nhanh tới chém Hốt Ma. Hốt Ma vì
quá hoang mang sợ hãi hơn nữa một Tướng khó địch lại hai Tướng, trúng liền hai
đao đứt làm hai đoạn, quân Ân như rắn không đầu, chỉ trong vòng chốc lác không
còn một mạng.
Hồ Phiên thấy tình thế không xong, liền ra lịnh kỵ binh xung
trận. Phiêu Liêu, điều khiển năm
nghìn kỵ binh nhanh chóng lao vào nhập cuộc, không ngờ bị xa quân những chiếc
xe đầy chông sắt lao tới tấn công, làm cho đội kỵ binh hổn loạn, xạ binh quân
Văn Lang bắn tên ra như mưa, đội kỵ binh quân Ân chết thôi là chết, thi nhau
chạy thục mạng, thoát ra khỏi trận ngũ hành, chết hơn phân nữa.
Hồ Phiên tái
mặt than trời khóc đất, không dám đưa quân vào trận nữa, coi như đi tiêu hơn
một vạn quân.
Hồ Phiên bây giờ mới biết lời
đồn quả không sai, nước Văn Lang có ngũ hành trận vô cùng lợi hại.
* * *
Nói về In Đô, Tiên Ngung, La Ha.
Trấn thủ Tây ngũ hành, In Đô Tướng quân ở trên đài quan sát ở
Trung ương hành kim, chỉ huy năm đội quân ngũ kỳ, năm màu, trắng, xanh, đen, đỏ, vàng.
Tiên Ngung thống
lĩnh hai đạo quân cờ trắng, cờ xanh,
La Ha, thống lĩnh hai đạo quân cờ đen, cờ đỏ, ở trên đài quan
sát, In Đô Tướng quân nhìn thấy quân
Ân triển khai ba đạo quân, đạo bộ binh, đạo xạ binh, đạo kỵ binh, mỗi đạo ước
lượng năm nghìn người. In Đô nhìn thấy đội quân bộ binh tấn công trước, liền
phất cờ vàng, ra hiệu.
Tiên Ngung, La Ha, thấy cờ
hiệu trên quan sát đài, liền tức tốc thu quân ẩn mình trong mây trận, Đạo quân
bộ binh do Ung Beo thống lĩnh điều
khiển, ào ào như nước lũ tiến vào trận, không gặp trở ngại nào cả thấy toàn là
mây đen cuồn cuộn, Đạo quân cứ tiến sâu vào vùng đất hoang vu, Ung Beo vô cùng
kinh hãi, liền ra lịnh cho Đạo quân lui trở ra.
Khi ấy trên quan sát đài, đội kỳ cờ
trắng, cờ xanh, xuất hiện theo thế bao vây.
Tức thời La Ha nhanh chóng phất cờ ra lịnh hai Đạo quân, nhanh chóng lao ra bao vây, quân Ân vô cùng
kinh hãi ra sức chống trả, cùng lúc ấy trên đài quan sát In Đô tự tay phất cờ vàng, tức thời hai nghìn binh thiết giáp, từ Trung
ương hành kim nhanh chóng ào ào lao ra chém giết quân Ân như chém chuối loáng
cái là chết sạch.
Cờ trắng, cờ xanh, trên đài
quan sát biến mất, thay vào đó là cờ đỏ, giáp binh, hành hỏa bao vây, cờ vàng thiết
giáp kỵ binh hành thổ tấn công.
Nói
về Hốt Ma nghe trận chiến rền trời
rền đất nhưng không thấy vì mây đen cuồn cuộn che chắn tầm nhìn, liền điều động
năm nghìn quân xạ tiển xông vào hiệp lực tấn công. Đội quân xạ tiển tiến sâu
vào không thấy Đạo quân bộ binh đâu cả, vô cùng kinh hãi chưa biết phải tiến
vào đâu, thời nghe chiêng trống dậy trời.
Đội quân áo giáp ào ào hiện ra bao vây,
lao tới chém Đạo quân xạ tiển quân Ân tới tấp.
Hốt Ma kinh hãi ra lịnh lập trận xạ tiển chống trả lại, nhưng không còn kịp nữa, Đạo quân thiết giáp
từ sau đánh tới vó ngựa rền trời, lao vào chém quân Ân như chém chuối, chỉ
trong chốc lác quân Ân chết sạch, Hốt Ma bỏ mạng sa trường.
Nói về Phiêu Liêu, Tướng giặc, được lịnh tức thời điều động năm nghìn kỵ
binh, tức tốc lao vào trận, xáp chiến,
kỵ binh quân Ân như cuồng phong ào ào bay vào trận. Khi ấy trên đài quan
sát cờ đen xa quân Đạo quân xe đầy chông sắt, xích sắt, theo thế cắt đôi quân
địch, cùng lúc, cờ trắng, cờ xanh, cờ đỏ, cờ đen, đồng loạt xuất hiện tấn công.
Nói về Phiêu Liêu, thống lãnh kỵ binh xông vào trận, thời không thấy Đạo
quân bộ binh, Đạo quân xạ binh đâu nữa, mà chỉ thấy quân Văn Lang trùng trùng
điệp điệp ẩn hiện trong mây đen, duy chuyển ẩn hiện một cách kỳ lạ, chưa biết
tấn công vào đâu, thời nghe xe cộ duy chuyển đùng đùng, lao ra cắt đôi kỵ binh
quân Ân, tức thời bốn phương tám hướng đồng loạt tấn công, Đạo quân kỵ binh Ân
chống trả không nổi, bỏ mạng vô số kể.
Phiêu Liêu kinh hãi cùng kỵ binh sống sót lao ra khỏi trận, kinh
hồn bạc vía.
Về sau có thơ rằng:
Tưởng rằng phá trận dễ như không.
Nào hay bỏ mạng lấp vùi chôn.
Ngũ hành trận pháp ôi huyền bí.
Biến ảo vô cùng giặc khiếp kinh.
Hơn vạn giặc Ân trong nháy mắt.
Vùi chôn thân xác chẳng còn tên.
Kinh hồn bạc vía quân ăn cướp.
Bỏ mạng tàn đời lũ yêu tinh.
* * *
Nghe chiến trận gươm đao gào
thét.
Cõi trời Nam đau xót muôn dân .
Hỡi giặc Ân nầy hỡi giặc Ân .
Cớ sao mi lại chiếm xâm cõi bờ.
Giờ đến lúc từ già đến trẻ.
Hãy đứng lên chống trả quân thù.
Đã chung dòng máu đồng bào.
* * *
HỒI HAI MƯƠI
TỬ CHIẾN
Nói về Lô Gô, Phô Rô, Cam Bô.
điều khiển hai vạn quân binh,
trấn giữ hành mộc,
nơi Trung ương hành mộc.
Phô Rô, thống lĩnh hao Đạo quân, cờ trắng, cờ xanh,
Cam Bô, thống lĩnh hai Đạo quân, cờ đen, cờ đỏ,
trên đài quan sát, Lô Gô thấy từ xa từ nơi đại quân Ân
ba Đạo quân cùng một lúc xuất phát, Đạo
quân bộ binh, Đạo quân xạ binh, đạo quân kỵ binh, mỗi Đạo quân năm nghìn quân,
đồng loạt tấn công Đông ngũ hành, với khí thế như cuồng phong vũ bão, quân Ân
ào ào lao vào trận.
Ỷ mình cậy thế quân đông.
Ào ào lao tới phá
tan ngũ hành.
Ba đạo quân cuồn cuộn xông vào.
Gươm, đao, giáo, mác, sáng ngời khiếp
kinh.
Lô Gô nhìn thấy quân giặc tấn công một lúc ba Đạo
quân như vậy, liền phất cờ cho bốn Đạo quân ẩn sâu vào trận, phất cờ phong trận
lên hư không, tức thời từ nơi đài cao Trung ương ngũ hành mây đen, mây trắng
cuồn cuộn bay ra phủ kín bốn Đạo quân Văn Lang.
Đây nói Võ Vu, đã từng nghe tiếng ngũ hành trận vô
cùng lợi hại, nếu không đưa
quân đánh tốc chiến, tốc thắng, liên kết ba Đạo quân với nhau, thời khó mà phá
được, liền ra lịnh cho ba Đạo quân cùng một lúc tiến vào,
Lỗ Đại Đạo
quân kỵ binh, Tấn Beo đạo quân xạ
binh,
Ngụy Hàn Đạo
quân bộ binh.
Ba Đạo quân ào ào xông vào trận, thời như
lạc vào vùng đất mênh mông mây đen, mây trắng, cuồn cuộn, không thấy một bóng
người, quân Ân vô cùng sợ hãi không biết quân địch ở phương nào mà tấn công, ba
Đạo quân Ân bổng thấy một Đạo quân xuất hiện, tấn công chúng, chúng liền hiệp
lực lao tới tấn công, hai bên giao tranh giữ dội,
quân Văn Lang chống trả không
lại liền bỏ chạy, quân Ân liền đuổi theo, bổng quân Văn Lang biến mất.
Quân
Ân vô cùng kinh hãi, chưa kịp biết phải làm sao, thời nghe chiêng trống dậy
trời, tên bắn ra như mưa.
Lỗ Đại, Tấn Beo, Ngụy Hàn, la lớn, rút lui, rút lui, chúng ta đã lọt vào ổ phục kích, quân
Ân rối loạn, quân Văn Lang dốc toàn lực lượng phản công, chớp nhoáng, sấm sét,
từ bốn phương tám hướng đánh tới tấp, quân Ân đạp lên nhau mà chạy.
Lỗ Đại, Tấn Beo, Ngụy Hàn, ra sức thoát ra khỏi trận nhưng không biết cửa ra ở
đâu, bằng phóng ngựa hầu tìm đường tẩu thoát, Lỗ Đại bổng nghe một tiếng quát to như sấm, ta chờ ngươi ở đây đã
lâu, nộp mạng đây, tức thời từ trong mây trắng một người xuất hiện, oai phong
lẩm liệt, múa trường thương người ngựa lao tới đâm Lỗ Đại một nhác, Lỗ Đại múa
giáo chống đở, hai bên đánh nhau mấy hiệp, Lỗ Đại quày ngựa bỏ chạy.
Tướng Văn Lang quát, chạy đâu cho thoát,
tức thời bắn một phát, Lỗ Đại trúng tên độc nhào xuống ngựa bỏ mạng,
người bắn chết Lỗ Đại chính
là Phô Rô.
Nói về Tấn Beo không ngờ ngũ hành trận lợi hại như vậy, vào trận thời được
nhưng ra thời không biết đường, đang phi ngựa tìm đường tẩu thoát, thời thấy
đội quân thiết giáp chận đường, liền quày ngựa chạy ngược trở lại, nào ngờ hai
bên tên bắn ra như mưa, Tấn Beo trúng tên khắp mình bỏ mạng.
Nói về Ngụy Hàn, đằng sau kỵ binh rượt đuổi, trước mắt là xạ binh bao vây,
Ngụy Hàn không còn đường nào khác là thúc ngựa lao vào xạ binh, không ngờ thoát
ra khỏi trận, quân Ân ào ào xông tới chận đứng quân Văn Lang không cho truy sát
Ngụy Hàn.
Ngụy Hàn trúng tên khắp mình nhưng chưa
chết hẳn, nói với Võ Vu rằng, quân
ta chết hết rồi.
Ngụy Hàn nói xong thời tắc thở, hồn chầu
âm phủ.
Võ Vu kinh hãi, không dám đưa
quân vào phá trận nữa,
Nói về Lô
Gô ở trên đài quan sát, thấy quân Ân đã lọt hết vào trận, tức thời phất cờ
trận dụ quân Ân sa vào bẫy lưới phục kích, quân Ân không hiểu sự biến ảo của
ngũ hành, rược đuổi quân Văn Lang, thế là quân Ân bị tấn công tới tấp, dẩn đến
rối loạn.
Lô Gô liền phất cờ hiệu vàng, tức thời đội quân thiết giáp
từ Trung ương hành mộc kéo ra chận đứng cửa ra, quân Ân kinh khiếp rối loạn
tháo chạy trở ra, liền bị Đạo quân thiết giáp Văn Lang đánh bật trở vào, không
biết nơi nào là đường trở ra nữa, chạy toán loạn bị quân Văn Lang hốt sạch
không còn một mạng.
Về sau có thơ rằng:
Ngũ hành trận pháp của Ông Cha.
Đã từng vùi dập giặc can qua.
Lẫy lừng trận pháp rền sông núi.
Khiếp vía hồn kinh lũ yêu ma.
HỒI
HAI MỐT
TỬ CHIẾN
Đây nói về Hồ Man Quân, cùng Hồ Mị Hoa,
thấy ngũ hành trận sát khí trùng trùng, nhất là nơi trung tâm ngũ hành trận
mây đen, mây trắng, cuồn cuộn, như có một quyền lực vô tận, làm cho ngũ hành
trận biến hóa khó lường. Bằng nói với Hồ Man Quân rằng, khi con học Đạo với
thầy con, thầy con có nói nước Văn Lang có ngũ hành trận vô cùng lợi hại. Nhưng
lợi hại hơn nữa, là còn tùy thuộc vào cơ trí của người điều khiển, không nên
xem thường, phải hết sức bình tỉnh mới phá được, chỉ cần phá được một phương
ngũ hành, thời bốn phương ngũ hành kia tức thời yếu đi, nhờ đó quân ta mới phá
tan ngũ hành nhanh chóng.
Hồ Cổn Quân
nói để con tiên phong phá trận cho,
bằng điểm một vạn binh mã, bộ binh, kỵ binh, xạ binh.
Hồ Mị Hoa, cháu thống lĩnh hai vạn quân theo sau yểm trợ. Hồ Man Quân lấy làm yên lòng vì hiểu rõ
tài phép của Hồ Mị Hoa.
Nói
về Dương Điền, La Đôn, Kinh Hạ, thống
lĩnh quân binh trấn giữ phương Nam hành hỏa.
Trên đài quan sát, Dương Điền thấy quân Hồ đông như kiến, từ đại quân tách ra một đạo
quân ước lượng một vạn quân, bộ binh, xạ binh, kỵ binh, nhanh chóng xông vào
trận. Tức thời trên đài quan sát xuất cờ trắng, cờ xanh hiệu lịnh tấn công,
chậm đứng thế mạnh ồ ạc tấn công quân địch. Thế là gươm đao giáo mác, quân reo
ngựa hí dậy trời, hai bên xáp chiến long trời lở đất.
Thế là trận chiến long trời.
Ngựa người lao tới ầm ầm kinh
thiên.
Giáo gươm dậy núi dậy non.
Chiêng rền, trống dội bụi bay
mịt mù.
Quân Ân ỷ mạnh tràn vào.
Sóng người cuồn cuộn khác nào
thác tuôn.
Trên đài cờ phất rút lui.
Văn Lang quân tướng thi nhau ẩn
mình.
Quân Hồ rượt đuổi ầm ầm.
Nào hay chẳng thấy quân thù nơi đâu.
Quân Hồ kinh hãi, hãi kinh.
Lạc vào ổ phục quân binh dậy
trời.
Đây nói về quân Văn Lang, chiến đấu quyết
liệt với quân Ân giả đò thua bỏ chạy, quân Ân rượt đuổi theo ầm ầm, chỉ trong
vòng chớp mắt quân Văn Lang biến mất, mây đen mây trắng cuồn cuộn bao phủ.
Quân Hồ lạc mất phương hướng không biết
quân địch ở chỗ nào, đang hoang mang kinh hãi.
Thời nghe chiêng trống dậy trời quân reo
dậy đất, tên từ bốn phương tám hướng bắn như mưa.
Quân Hồ trúng tên chết la liệt, hổn loạn
đạp lên nhau mà chạy, chạy chỗ nào cũng bị quân Văn Lang nhưng đội quân ma quỹ,
bám theo chém giết ầm ầm.
Nói
về Hồ Cổn, thấy quân Văn Lang chống
trả không lại bỏ chạy, liền thúc quân lao theo chém giết hò hét dậy trời.
Bổng thấy mây đen, mây trắng, cuồn cuộn
kéo tới tức thời quân Văn Lang biến mất.
Hồ Cổn kinh hãi không biết địch ở nơi
nào, lại lạc mất phương hướng không biết đâu là Đông Tây Nam Bắc, liền ra lịnh
thối lui, nhưng không còn kịp nữa, bốn phương tám hướng chiêng trống dậy trời
quân reo dậy đất tên bắn ra như mưa, chết thôi là chết.
Hồ Cổn tìm đường tẩu thoát nhưng nơi nào cũng toàn là quân
Văn Lang tên bắn xối xả.
Hồ Cổn cùng tốp kỵ binh phá vòng vây
thoát ra, chạy một hơi nhưng không thấy lối ra đâu cả kinh hoàng khiếp vía,
bổng nghe tiếng quát chạy đâu cho thoát tức thời kỵ binh thiết giáp xuất hiện
bao vây.
Kỵ binh quân Hồ liều mình chống trả,
nhưng chống trả làm sao nổi bỏ mạng lớp lớp.
Hồ Cổn liều mình phá vòng vây bỏ chạy thục mạng, không biết
là mình chạy đến nơi nào.
Bổng nghe tiếng quát chạy đâu cho thoát,
tức thời ba người xuất hiện chận đầu, Hồ Cổn càng thêm khiếp vía, người ở bên phải nói để thuộc hạ đưa tên nầy
về chầu âm phủ. Tức thời múa đao thúc ngựa lao tới chém Hồ Cổn một đao như trời
giáng. Hồ Cổn múa giáo chống đở, choang đinh tai nhứt óc, Hồ Cổn mạnh vô cùng,
không dễ gì một đao mà hạ gục được. Người bên
trái thấy thế nói, tên Tướng giặc nầy quả là lợi hại để thuộc hạ lao ra
hợp sức hạ gục cho rồi. Tức thời múa đao thúc ngựa lao ra chém tới tấp vào Hồ
Cổn. Hồn Cổn võ nghệ cao cường khó mà hạ gục được.
Vị Tướng Văn Lang thấy thế liền phi ngựa
lao vào xáp chiến Hồ Cổn đánh không lại ba người đành bỏ mạng.
Nói
về Hồ Mị Hoa, chỉ huy hai vạn quân
theo sau yểm trợ, vừa lao vào trận chiến thời không còn nhìn ra phương hướng
nữa, mây đen, mây trắng, cuồn cuộn. Bổng thấy quân binh hổn loạn, Hồ Mị Hoa
thét lớn tất cả đều không được hổn loạn. Hồ Mị Hoa giật cả mình, khi thấy đạo
quân thiết giáp không biết từ đâu kéo ra cắt đôi đạo quân của mình, làm cho đạo
quân rối loạn.
Hồ Mị Hoa thúc quân quay ngược trở lại
chống trả.
Không ngờ từ phía sau quân Hồ,
quân Văn Lang như cuồng phong vũ bão từ phía sau đánh tới.
Trước mặt quân địch, sau lưng quân địch,
đánh như mưa trút quân Hồ tá hỏa, thi nhau ngã gục.
Nói
về quân Hồ bị cắt đôi không còn tiếp ứng với nhau được nữa, bị đạo quân thiết
giáp đánh bật lui ra khỏi trận địa, còn một nữa trong trận địa hổn loạn, bị
quân Văn Lang chém giết tơi bời.
Hồ Mị Hoa không biết đâu là đường ra mây đen, mây trắng cuồn cuộn
che chắn hết cả tầm nhìn, chiêng trống dậy trời, quân reo dậy đất chỗ nào cũng
có quân Văn Lang. Hồ Mị Hoa giờ
đây mới biết ngũ hành trận pháp vô cùng lợi hại, phải phá tan mây đen, mây
trắng, mới thấy được phương hướng thoát ra, liền hóa phép.
Không ngờ càng hóa phép thời
mây đen, mây trắng, cuồn cuộn phủ tới càng nhiều.
Hồ Mị Hoa khiếp
quá hóa ra trận cuồng phong thúc con Thiên Lý Mã vượt qua đầu quân binh lao ra
khỏi trận.
Đây nói về Hồ Man Quân, trong lòng hồi hộp không biết có phá được trận ngũ
hành không, lúc nào cũng nghe đao kiếm dậy trời, bổng thấy một bóng ngựa từ
trong trận bay ra, thời nhận ra ngay là Hồ Mị Hoa.
Hồ
Man Quân thúc ngựa lao tới hỏi, quân ta thế nào, Hồ Mị Hoa chưa hết kinh hãi
nói, e chết hết trong trận rồi,
Hồ Man Quân nghe Hồ Mị Hoa
nói thế, điến cả người không biết Hồ Côn chết sống ra làm sao.
Đây
nói về Dương Điền ở trên đài quan
sát thấy quân Hồ xông vào trận đông như kiến, nào là bộ binh, nào là xạ binh,
nào là kỵ binh, sức mạnh dời non lấp biển, khí thế hừng hực.
Dương Điền
tức thời ra hiệu lịnh phất cờ trắng,
cờ xanh theo thế xáp chiến.
La Bôn liền
điều khiển đạo quân bộ binh, xạ binh, cùng đội quân kỵ binh lao ra chận đánh
quân hồ, dậy trời dậy đất, xáp trận một hồi quân hồ mạnh quá.
Quân Văn Lang được lệnh rút lui.
Quân Hồ thừa thắng xông lên
ào ào rượt đuổi quân Văn Lang như cuồn phong vũ bão.
Quân Văn Lang được lệnh tẻ ra làm hai
theo thế bao vây ẩn mình trong mây trận.
Quân Hồ thấy quân Văn Lang biến mất trong
mây trắng, mây đen, vô cùng kinh hãi.
Trên quan sát đài, cờ hiệu lịnh trắng,
đen, xanh, đỏ, bốn phương tám hướng tấn công.
Tức thời La Đôn, Kinh Hạ, điều khiển bốn đạo quân, chia ra làm hai, thành
tám đạo quân đồng loạt tấn công, từ bốn phương tám hướng, tên bắn ra như mưa,
quân Hồ rối loạn chạy chỗ nào cũng bị quân Văn Lang như thiên la địa võng phủ
đánh.
Trên quan sát đài, Dương Điền thấy quân Ân lớp trước lớp sau xông vào trận càng lúc
càng đông như kiến, liền phất cờ vàng hiệu lịnh, theo thế cắt đôi quân địch, chận
đứng không cho quân giặc rút lui, chận đứng không cho quân giặc xông vào trận.
Tức thời đạo quân chủ lực thiết giáp từ
trung ương hành hỏa do tướng Đổ Trung Pha,
nhanh chóng bọc hậu cắt đứt quân Hồ trong không cho ra, ngoài không tiến
vào được, đội quân thiết giáp chủ lực,
là đội quân phá sức mạnh của địch, quân Hồ lùi ra không được, tiến vào không
xong bị quân Văn Lang xơi sạch. Sau có
thơ rằng:
Hơn nhau chỉ một nước cờ.
Chuyển xây thế trận diệt loài ngoại
xâm.
Hơn nhau chủ động điều quân.
Làm cho quân giặc hết mong sống còn.
Ngũ hành khiếp vía quân thù.
Xác phơi như núi hãi hùng ngoại xâm.
* * *
HỒI
HAI HAI
QUYẾT TỬ
Đây nói về Lê Anh, Đoàn Minh, Hoàng Phi,
được lịnh trấn giữ hành thủy.
Lê Anh trên đài quan sát, thấy quân Ân trùng trùng lớp lớp rồi
tách ra làm ba đạo quân, do Sát Sát chỉ huy, sai Tào Côn , làm tướng tiên phong phá trận. Tào Côn phất cờ đạo quân
bộ binh ào ào xông vào trận, xáp chiến với quân Văn Lang, rồi có hiệu lịnh lui
quân.
Đạo quận xạ tiển lao vào bắn quân Văn
Lang xối xả, quân Văn Lang giã thưa bỏ chạy, quân Ân không đuổi theo mà lui quân
ra sau, nhường cho quân kỵ binh lao vào nhanh như gió tấn công quân Văn Lang
xối xả, rồi lui ra cứ như thế quân Ân tiến sâu vào trận địa, từng bước từng bước
phá tan ngũ hành trận, quân Văn Lang không còn cách nào hơn là xông ra tử chiến,
thế là trận đánh xáp lá cà, nhờ mây trận che chắn nên quân Văn Lang ít thiệt
hại hơn, trận chiến cứ thế xãy ra cả hàng giờ, bất phân thắng bại.
Nói
về Sát Sát thấy quân Ân chưa làm gì được quân Văn Lang, liền điều động năm
nghìn quân chủ lực, tiến vào trận. Tức thời gặp phải đạo quân áo giáp xạ tiển
chận đánh, đội quân chủ lực quân Ân đánh trả quyết liệt, hai bên tử nạn, thương
vong vô số.
Sát Sát vô cùng tức giận làm phép chỉ kiếm, tức thời dông tố nổi lên ầm ầm đánh vào quân Văn Lang,
tức thời mây đen, mây trắng cuồn cuộn chống trả.
Sát Sát vô cùng kinh hãi, niệm chú hóa
phép yêu tinh quỹ dữ hiện ra, tức thời mây trắng, mây đen hóa ra sấm sét yêu
tinh quỹ dữ khiếp vía tan biến hết.
Nói về đạo quân tinh nhuệ quân Ân quả
nhiên lợi hại đánh bật đạo quân áo giáp. Mây trắng mây đen, bị áp lực thần
thông Sát Sát làm cho giảm sút uy lực, vì thế quân Văn Lang cũng giảm sút đi sự biến hóa, quân Ân vì
thế mà tấn công dữ dội, lớp nầy ngã xuống lớp khác xông lên, quân Văn Lang ít
quân hơn chỉ nhờ vào trận pháp ngũ hành biến hóa theo tiêu diệt kẽ thù.
Sát Sát hết làm phép nầy tới làm phép
kia, quyết phá tan mây đen mây trắng, đang trong lúc làm phép thời nổi lên
tiếng quát như sấm, yêu nữ kia nạp mạng đi. Tức thời một đạo quân thiết giáp
đội quân tinh nhuệ nhất của đạo quân Văn Lang, từ trung ương ngũ hành, ào ào
phi ra tấn công vào đội quân tinh nhuệ thiết kỵ binh quân Ân.
Thiết kỵ binh quân Ân ra sức chống trả, nhưng
không nổi sắp bị tiêu diệt đến nơi.
Sát Sát kinh khiếp thúc quân phá vòng vây
đánh bật đạo quân áo giáp lao ra khỏi trận, thấy Tào Côn mình đầy máu bị thương
khá nặng, thoát ra khỏi trận trước mình. Sát
Sát nhìn lên trời thở dài thế là đi tiêu gần hai vạn quân.
Nói
về quân Văn Lang tuy thắng trận nhưng cũng thiệt hại gần hai vạn quân, chỉ còn
hơn tám vạn quân, định thừa thắng xông ra tiêu diệt quân Ân, nhưng thấy quân Ân
còn đông quá, khó mà đánh cho lại, bằng cố thủ trong trận ngũ
Hành. Quân Ân cũng không dám
tấn công nữa, chỉ bao vây bốn cửa một lúc một thêm chặc.
* * *
HỒI HAI BA
ĐẠI
PHÁ QUÂN VĂN LANG
Đây nói về cùng lúc trận
chiến cánh Tây quân Ân do Sát Sát chỉ huy, thời cánh Đông Ân Mao Vương, cùng vợ hai là Nghịch
Phong sau khi thắng trận giết chết Cao
Sơn một tướng kỳ tài của quân Văn Lang, thời lấy làm hả dạ, vì đã trả thù
được cho con là Mao Lợi cùng
Tây Đô, Tào Hổ, sau đó thời lên kế
hoạch đánh phá trận ngũ hành tiêu diệt quân Văn Lang.
Trong lúc đang bàn thời có quân vào báo, có Hung
Đa Di, Hung Quân Liệt, đến.
Ân Mao Vương cho mời vào, Hung Đa Di,
Hung Quân Liệt, sau khi diện kiến Ân Mao Vương, thời kể lại tất cả bị quân Văn
Lang đánh bất ngờ, thua đau thua đớn, thiệt hại hơn một nữa số quân.
Ân Mao Vương, Nghịch Phong nghe qua lấy
làm kinh hãi, nói quân Văn Lang hùng mạnh đến thế sao.
Hung Đa Di nói, chúng thần
cho người dọ thám thời mới biết quân Văn Lang chỉ có 10 vạn quân mà thôi.
Ân Mao Vương nghe xong lấy
làm kinh ngạc, chỉ có 10 vạn quân mà đánh tiêu 30 vạn quận, mà toàn là những
quân chiến mã thiện chiến, tung hoành trên thảo nguyên, từ phương Bắc đến
phương Nam, chuyện nầy nếu không phải là hai Tướng quân con của Hung Nô Vương
nói, thời khó mà tin được.
Hung Đa Di, Hung Quân Liệt, nói nếu không chủ quan xem thường quân Văn Lang, thời
quân Văn Lang sẽ không bao giờ đánh bại một cách dễ dàng như thế được, dù cho
đó là lực lượng tương đương với nhau.
Ân Mao Vương nói thua keo nầy gầy lại keo
khác, mau về nói với Hung Nô Vương mau đến đây bàn kế tiêu diệt quân Văn Lang, Hung
Đa Di tức tốc lên đường, không bao lâu thời Hung Nô Vương đến, hai bên chào hỏi
với nhau, Ân Mao Vương liền vào đề.
Một trận chiến nầy nếu chúng ta thắng, thời
không chỉ chúng ta nuốt Bắc Văn Lang, mà Trung Văn Lang, cho đến cả Nam Văn Lang,
tha hồ mà hưởng sung sướng, tha hồ mà làm bá chủ, phương Bắc cũng phải khiếp sợ
chúng ta, Hung Nô Vương hỏi kế sách đó
bằng cách nào.
Ân Mao Vương nói tấn công phá ngũ hành
trận, tiêu diệt đại quân chủ lực Văn Lang, một trận pháp vô cùng lợi hại của
nước Văn Lang, nếu phá được thời quân Văn Lang không còn dựa vào đâu để đối
địch lại chúng ta.
Nếu Hung Nô Chúa Vương chịu đánh phá một
cánh, Đông ngũ hành, thời Ân Mao Vương ta sẽ hiến kế,
Hung Nô Vương nói cứ đưa ra
kế sách, Chúa Vương tôi quyết thực hiện theo.
Ân
Mao Vương nói, Chúa Vương chỉ cần năm vạn quân chịu trách nhiệm tấn công vào
cánh Đông hành mộc ngũ hành trận, còn bao nhiêu quân thời phục kích, không được
phục kích nơi đồi Mục Linh, vì phục
kích nơi đồi Mục Linh, quân Văn Lang phát hiện bao vây đánh hỏa công ngay, vì
lúc nầy trời có nắng, lại có gió to. Quân Văn Lang sẽ đi bọc qua đồi Mục Linh
trong đêm đến Kinh Đô đánh cướp trại chúng ta.
Khi nghe chúng ta dồn hết lực lượng công
phá trận ngũ hành, thời chúng bí mật bất ngờ đốt phá doanh trại, phá
hủy lương thực chúng ta, làm
cho chúng ta hoang mang tinh thần đi đến hồn loạn, tức thời chúng đánh từ sau
đánh tới, ở trong đánh ra, chỉ cần tiêu diệt được một cánh quân chúng ta, thời
chúng tức tốc kéo quân bao vây từ sau cánh Đông đánh tới, trong đánh ra, sau
đánh tới tiêu diệt mất hai cánh quân chỉ còn nước là bỏ chạy mà thôi, chúng
thừa thắng hiệp lực với các cánh quân Châu Phủ, truy sát bại binh chúng ta,
thời giất mộng xâm chiếm Văn Lang coi như chấm hết, không khéo nhân cơ hội đó
quân binh nhà Chu kéo đến chiếm mất ba nước chúng ta, thế là chúng ta tàn đời,
Hung Nô Vương nghe xong vô cùng kinh hãi.
Để
thắng được trận nầy, phải hết sức bí mật, cho năm vạn quân phục kích, theo
đường bọc của quân Văn Lang, bọc qua đồi
Vạn Linh, đến Kinh Đô, phục kích cách xa đồi Vạn Linh hơn bảy dặm, chờ cho quân
Văn Lang qua khỏi đồi Vạn Linh, chúng không còn cảnh giác cao độ.
Khi quân Văn Lang sa vào ổ
phục kích chúng ta, thời đồng loạt ra lịnh tấn công, quân Văn Lang không phải
là quân hổn tạp tầm thường chúng cố chống trả lui trở lại nhưng không trở lại
thành Xích Linh, vì quân Văn Lang sợ chúng ta phục kích chận đường rút lui của
chúng mà tiêu diệt, mà chạy về Huyện An
Giao chúng ta chờ đợi chúng đến mà tiêu diệt.
Hung Nô Vương
nghe xong cho là diệu kế, tức tốc bí
mật triển khai lực lượng, quân Văn Lang tuy có đội thám thính giỏi, nhưng cũng
không phát hiện được gì, vì quân Hung Nô đánh lừa, thua chạy đóng trại bên kia
sông, thật ra đó chỉ là doanh trại giả, mục đích đánh lừa quân thám thính Văn
Lang mà thôi, cứ nghĩ quân Hung Nô thua trận cố thủ bên kia sông chưa hành động
gì cả, ngày nào cũng quân reo ngựa hí, như đang tập trận.
Đây
nói về Ân Mao Vương, lập đàn cầu sư
phụ, nói về Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ
Tam Quỉ, đang ngồi tu thiền luyện khí, bổng nghe hương trầm thoảng qua lấy
làm lạ liền bấm tay độn quẻ, thời biết Ân
Mao Vương đang cầu, liền tức tốc đằng vân bay đến.
Nghịch Phong
xem thường trận ngũ hành nên không
cầu sự phụ giáng lâm.
*
* *
Lại nói về Nguyên Minh cùng các Tướng Lĩnh vô cùng
thương tiết cao sơn vị Tướng tài ba
của quân Văn Lang, và cũng vô cùng kinh hãi thần thông pháp thuật của tướng nữ
giặc Ân, quân Ân đã nhiều lần đến khiêu chiến, nhưng quân Văn Lang chỉ cố thủ
trong doanh trại ngũ hành,
Ngày đêm tập luyện củng cố
trận pháp, từ nơi trận pháp ngũ hành xuất hiện mây đen, mây trắng, càng nhiều,
lại có những tia hào quang phát lên từ trung tâm ngũ hành, cũng như bốn trung
tâm, Kim- Mộc- Thủy- Hỏa.
Nguyên
Minh, Nguyên Dực là hai anh em sanh
đôi, cháu nhiều đời của quan Lạc Tướng Nguyên Đô, ở Bộ Ninh Hải, Châu Đông Hải,
Huyện Đông Châu, khi còn nhỏ hai anh em đang chơi, bổng một trận gió cuốn đi
đâu mất, sau 10 năm trở lại , từ đó nổi tiếng là có tài hay phép lạ, võ nghệ
cao cường.
Nguyên Dực và Nguyên Minh, được một Đạo Tiên
râu tóc bạc phơ đưa ra biển đảo dạy cho võ nghệ cùng trận ngũ hành. Khi Nguyên
Dực, Nguyên Minh học thành tài, thời vị Đạo Tiên ấy nói.
Ta là Cao Tổ thời dựng nước, vì có nhân duyên với hai con nên ta xuống
trần, truyền dạy võ nghệ cùng trận ngũ hành sau nầy đánh giặc Ân cứu nước. Nói
xong Cao Tổ đưa cho Nguyên Dực, Nguyên Minh, mỗi người một lá cờ Thần, gọi là
cờ trận, truyền dạy những pháp chú, xong đâu vào đấy, vị Đạo Tiên nói hai con
hãy nhắm mắt lại để ta đưa hai con trở lại quê nhà.
Nguyên Dực, Nguyên Minh, nghe theo lời
dạy nhắm mắt lại chỉ nghe gió thổi ù ù bên tai, chừng không còn nghe gió thổi
nữa, liền mở mắt ra thời ở trước sân nhà rồi.
Cả nhà thấy Nguyên Minh, Nguyên Dực trở
về, vui mừng khôn xiết, nhất là mẹ của Nguyên Dực, Nguyên Minh, nhìn thấy con
khôn lớn, bà không cầm được giọt nước mắt,
vì thương nhớ con bà già đi
trước tuổi, sự đoàn tụ ấy không bao lâu thời mẹ mất, từ đó Nguyên Dực, Nguyên Minh
văn ôn võ luyện chờ ngày lên đường giúp nước.
Nguyên Minh ngồi trầm tư nhìn lá cờ
thần mà nhớ lại chuyện xưa, tất cả đều hiện ra trước mắt như mới hôm qua, Nguyên
Minh nghĩ.
Non sông
Tổ Quốc, và biển đảo, nó Thiêng Liêng làm sao, Nguyên Minh đang trầm tư hồi tưởng chuyện xưa, thời có quân vào
báo.
Bẩm Chủ Soái, quân Ân đã triển khai lực
lượng đánh chúng ta.
Nguyên Minh tức thời triệu tập các quan Tướng,
lên đài quan sát xem tình hình quân giặc, thấy liên hoàn doanh trại giặc Ân đang
huy động toàn lực lượng chuẩn bị công phá đoanh trại ngũ hành quân Văn Lang.
Đa
Kế nói.
Bẩm Chủ Soái, hãy viết ngay mật thư gỡi
cho Cao Hải Đô Thống Tướng Quân,
đang ở thành Xích Linh, sau khi triệt phá quân Hung Nô, với kế sách đánh bọc hậu đốt phá doanh trại, cũng
như lương thực của giặc Ân.
Khi quân Ân đã dốc toàn lực lượng tấn
công chúng ta, và đúng như vậy chỉ mấy ngày sau thời quân Ân triển khai lực lượng
bao vây doanh trại quân Văn Lang từ bốn hướng.
*
* *
HỒI
HAI BỐN
ĐẠI PHÁ QUÂN VĂN LANG
Nói về Ân Mao Vương lập đài cầu ba sư phụ, không bao lâu thời Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ Tam Quỉ,
đến. Ân Mao Vương, Nghịch Phong
tiếp đón lạy tạ, xong đâu vào đấy, Ân Mao Vương mời ba sư phụ ngồi ghế cao, rồi
thưa rằng, con cầu ba sư phụ đến đây giúp con phá trận ngũ hành, chỉ cần phá
tan trận ngũ hành nầy thời con nhất định chiếm lấy được nước Văn Lang.
Hồ Nhất Tinh
nói trận ngũ hành phương Nam không
giống như trận ngũ hành phương Bắc.
Trận ngũ hành phương Nam vô cùng lợi hại,
nhất là lá cờ trận, ngũ hành, ta có đi
ngang qua cánh Tây, thấy Sát Sát thất
bại khi phá trận ngũ hành, và đang huy động toàn lực lượng, hợp lực cùng quân Hồ,
quyết phá trận cho bằng được. Sát Sát đang
lập đàn cầu sư phụ đến giúp đở.
Hồ Nhị Yêu
nói trận ngũ hành ở phương Nam, không
những lợi hại ở lá cờ trận, mà còn lợi hại biến hóa binh pháp ở người điều
khiển trận địa.
Hồ Tam Quỉ
nói như vậy muốn phá trận ngũ hành,
thời phải theo hai phương án.
Phương án thứ nhất, là phá tan pháp trận
Uy Linh của cờ trận.
Phương án thứ hai, là phá tan binh trận, có
như vậy mới thành công được.
Hồ Nhất Tinh
nói ta chịu trách nhiệm đánh phá
Trung Ương.
Hành thổ đài chính nơi có lá cờ trận, cắm
trên cao tần năm của đài quan sát, nơi cờ trận phát ra uy lực vô cùng tạo ra
mây đen, mây trắng.
Hồ Nhị Yêu
nói ta chịu trách nhiệm đánh vào cờ
trận trung tâm hành kim, phá tan sức
mạnh của kim lệnh, tạo ra ảo giác, của hành trận.
Hồ Tam Quỉ
nói ta chịu trách nhiệm đánh vào cờ
trận trung tâm hành mộc, phá tan sức mạnh ảo giác của trận khí
Hồ Nhất Tinh
nói.
Ân Mao Vương,
chịu trách nhiệm đánh vào cờ trận
trung tâm hành hỏa, phá tan sức mạnh ảo giác của trận khí.
Hồ Nhất Tinh nói xong liền
thổi lên khúc tiêu kỳ lạ, tức thời có một con chồn to lớn có cánh bay đến.
Hồ
Nhất Tinh nói con cỡi con Hồ Tiên nầy bay vào trung tâm hành hỏa phá trận.
Hồ Nhất
Tinh nói.
Nghịch Phong,
chịu trách nhiệm, cỡi con Thần Mã bay
lên không đánh vào cờ trận, trung tâm hành thủy, phá tan sức mạnh ảo giác của
trận khí.
Cờ trận đã có người phá, còn
binh trận phải chọn Tướng tài giỏi điều binh khiển tướng công phá.
Ân Mao Vương,
phân bổ lực lượng tấn công phá trận
ngũ hành như sau.
Hồ Ma nghe
lịnh, có thuộc hạ.
Lão Tướng quân thống lĩnh năm
vạn quân, đánh vào cửa Tây kim trận, tuân lịnh.
Chiên La
nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng nữ thống lĩnh năm vạn
quân, đánh vào cửa Bắc thủy trận.
Hổ Tinh
nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân thống lĩnh năm vạn
quân, đánh vào cửa Nam
hỏa trận, tuân lịnh.
Beo Tinh
nghe lịnh, có thuộc hạ.
Tướng quân thống lĩnh năm vạn
quân, bảo vệ liên hoàn doanh trại, nhất là bảo vệ lương thực, đề phòng bất ngờ
xảy ra, tuân lịnh, không bổ lực lượng đâu vào đấy.
Ân Mao Vương nói, chờ quân Hung Nô đến,
là triển khai quân tấn công.
Không bao lâu thời có người vào báo, quân
Hung Nô đã đến, thế là quân Ân, triển khai lực lượng phá trận, bốn đạo quân như
bốn con mãn xà, từ trong đoanh trại bò ra lượn mình lao tới doanh trại quân Văn
Lang, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía.
* * *
Đây nói về Nguyên Minh cùng các Tướng trên đài quan sát nhìn thấy quân Ân như
bốn con mãn xà từ liên hoàn doanh trại lao ra, cuồn cuộn bò tới bao vây doanh
trại ngũ hành, quân binh đông như kiến.
Nguyên Minh nhìn lên trời khấn rằng, đây
là trận sanh tử sống còn của nước Văn Lang.
Trả nợ nước non lúc nầy đây
Dù có hy sinh cũng vui vầy
Hiếu trung một dạ lòng quyết tử
Xả thân vì nước sướng vui thay
Dòng máu anh hùng nòi Hồng Lạc
Trải gan phơi mật chí tung bay
Đền ơn xả tắc, dù ngã gục
Tử chiến quân thù, chí hăng say
Nguyên Minh,
nói cùng các Tướng Lĩnh, quân xâm
lược tự nó dẫn xác đến, chúng nó sẽ bỏ mạng tại nơi đây, đền tội với đồng bào
dân tộc ta.
Chúng kéo đến nhiều chừng nào
tốt chừng nấy, đây là cơ
Hội cho chúng ta quét sạch
chúng, các Tướng quân nghe lịnh, tất cả hãy vào vị trí chiến đấu, một còn một
mất với quân thù.
Nói về cánh Tây trận ngũ hành.
Cự Lân, tổng chỉ huy, ở trên quan sát đài, điều hành cờ trận, cùng
ba phó Tướng chỉ huy ở dưới đất là Xuân
Thành, Kim
Trọng, điều khiển bốn đạo quân, Kim -Mộc-
Thủy- Hỏa.
Khơ Linh điều khiển đạo quân hành thổ Trung Ương,
Cánh Đông ngũ hành.
Huyền Trung,
tổng chỉ huy, ở trên đài quan sát
điều hành cờ trận, cùng ba phó Tướng chỉ huy ở dưới đất là Hoàng Châu, Trịnh Chu, điều khiển bốn đạo quân, Kim-Mộc- Thủy-Hỏa.
Ngô Dụng, điều khiển đạo quân Trung Ương hành thổ,
Cánh Nam ngũ hành.
Trần Bá, tổng chỉ huy ở trên đài quan sát điều hành cờ trận, cùng
ba phó Tướng là Tôn Nghị, Dương Phàm, điều
khiển bốn đạo quân, Kim- Mộc- Thủy- Hỏa.
Khơ Lan, điều khiển đạo quân Trung Ương hành thổ,
Cánh Bắc ngũ hành.
Phan Lợi, tổng chỉ huy ở trên đài quan sát, điều hành cờ trận, cùng
ba phó Tướng ở dưới đất là Đổ Can, Ngô Đại, điều khiển bốn đạo quân, Kim- Mộc- Thủy-
Hỏa.
Quốc Trung, điều
khiển đạo quân Trung Ương hành thổ,
Cùng lúc ấy. Nguyên Minh phất cờ trận Trung Ương niệm chú, tức thời mây đen, mây
trắng, cuồn cuộn hiện ra che phủ ngũ hành trận, Nguyên Minh lại phất cờ trận
niệm chú tức thời Kim Thần, Mộc Thần,
Thủy Thần, Hỏa Thần, Thổ Thần, xuất hiện trấn giữ các cờ trận Trung Ương
ngũ hành. Tức thời ngũ hành trận uy lực vô biên, sát khí ngùn ngụt.
HỒI HAI LĂM
TỬ CHIẾN
Nói về Hồ Ma thống lĩnh năm vạn quân Ân, rầm rầm rộ rộ như con mãn xà lượn
mình về hướng Tây lao nhanh tới cánh Tây trận ngũ hành bao vây trùng trùng điệp
điệp.
Hồ Ma, chia ra làm ba đạo
quân, bộ binh, xạ binh, kỵ binh, đồng
loạt tấn công, quân reo dậy đất ngựa hí vang trời.
Tràng vào ngũ hành kim trận, bổng
thấy trên đài quan sát cờ trận phất theo thế quân binh ẩn sâu trong trận pháp, khí
trận tỏa ra sương mù.
Quân Ân tiến vào như tiến vào chỗ không
người, bộ binh do tướng Mục Yêu, chỉ
huy bộ binh quân Ân tiến vào như chỗ không người, thấy nơi đâu cũng toàn là sương
mù, thời vô cùng kinh hãi.
Cùng lúc ấy đạo quân xạ binh
quân Ân cũng rơi vào tình cảnh như thế, tướng Phi La kinh hải.
Đạo quân kỵ binh do tướng Hồ Phỉ chỉ huy cũng không khá gì hơn,
không thấy chi cả, chỉ toàn là sương mù, trong lúc còn đang hoang mang.
Thời mây đen, mây trắng, cuồn
cuộn kéo tới, che chắn hết tầm nhìn quân binh khó mà nhìn thấy được nhau.
Quân Ân đang hoang mang thời nghe chiêng
trống dậy trời quân reo dậy đất tên bắn ra như mưa, lao giáo phóng ra như mưa
trút, quân Ân rối loạn binh mã, rối loạn đội hình tấn công lẫn nhau chết thôi
là chết.
Mây đen, mây trắng, sương mù phủ kín, quân
Ân không biết đâu là đâu đạp càn lên nhau vì không nhận rõ đâu là kẻ thù, đâu
là ta.
Mục Yêu kinh
hãi lao tới gào thét bình tỉnh không được giết lầm quân ta.
Mục Yêu nghe tiếng quát như sấm, từ trong
đám mây lao ra một dũng Tướng múa trường thương đâm Mục Yêu nhanh như tia chớp,
Mục Yêu múa giáo chống trả, hai hổ đánh nhau dậy trời, người vừa lao ra đánh
Mục Yêu không ai khác hơn chính là Xuân
Thành.
Xuân Thành
võ nghệ cao cường, trường thương như
mưa sa bão táp, Mục Yêu chống trả muốn hụt hơi.
Trong khi ấy quân Văn Lang
như ma quỹ ẩn hiện khắp nơi tấn công tới tấp, quân Ân càng lúc càng rối loạn,
quân Văn Lang xông lên chém quân Ân như chém chuối.
Sau có thơ rằng:
Kinh thay chiến trận ầm ầm.
Tên bay dậy đất, giáo rền dậy
non.
Gươm, đao, chơm
chớp loáng loang.
Ầm ầm trận địa kinh thiên rợn người.
Ào ào người ngựa ào ào.
Đùng đùng dồn dập ôi nào
khiếp kinh.
Đầu người rụng xuống như sung.
Thây người chồng chất núi non kể
gì.
Một bên con cháu Tiên Rồng.
Một bên xâm lược bạo tàn ác ôn.
Ôi thôi đao kiếm rền vang.
Chờ xem trận chiến thắng thua phen nầy.
Cùng lúc ấy Phi La đang ra sức dồn quân chống trả
lại quân Văn Lang, từ mây trận bắn xối xả ra, bất thình lình đội quân áo giáp
Văn Lang từ phía sau đạo quân xạ tiển quân Ân, đánh bọc tới, đạo quân xạ tiển
quân Ân vô cùng rối loạn, tuôn vào mây trận, bị quân Văn Lang xơi sạch, tình thế
vô cùng nguy cấp, nếu quân Ân không có giải pháp chống trả hửu hiệu.
Cùng lúc ấy, đạo quân kỵ binh Ân, đang ra
sức chống trả lại, đạo quân ma quỹ lúc ẩn lúc hiện quân Văn Lang.
Tướng Hồ Phỉ giặc
Ân ra sức thúc kỵ binh chống trả, Hồ Phỉ đang hò hét muốn hụt hơi.
Bổng thấy một đạo quân thiết giáp kỵ binh
từ mây trận lao ra chém kỵ binh quân Ân như chém chuối.
Hồ Phỉ kinh
hãi, lao vào xáp chiến, thời nghe một tiếng quát trong trẻo Khơ Linh thúc ngựa xông vào song kiếm chém
tới như mưa.
Hồ Phỉ múa giáo chống trả,
Khơ Linh võ nghệ cao cường, thế võ kỳ bí, song kiếm biến hóa, Hồ Phỉ chống đở muốn
hụt hơi, quày ngựa bỏ chạy.
Về sau có thơ rằng:
Phương Nam nữ Tướng anh hùng.
Đường gươm chơm chớp lẩy lừng biết bao.
Đánh cho Tướng giặc lao đao.
Kinh hồn bạc vía tả tơi kinh hồn.
* * *
Cùng lúc ấy cánh Đông trận
ngũ hành, Hung Nô Vương dồn quân xông vào trận như nước lở.
Trên đài quan sát. Huyền Trung, thấy quân Hung Nô tràng vô hành trận như nước lở, liền
phất cờ hiệu, dụ địch.
Tức thời Hoàng Châu, điều khiển đạo quân kỵ binh ào ào xông ra chận đánh.
Quân Hung Nô mạnh như vũ bão, không thế
lực nào ngăn trở nổi, quân Văn Lang đánh không lại thi nhau bỏ chạy, quân Hung
Nô rượt theo truy sát, một hồi lâu.
Quân Văn Lang lao vào sương
mù rồi biến đi đâu mất.
Đạo
quân thứ hai do Trịnh Chu chỉ huy từ
trong sương mù xuất hiện, tấn công quân Hung Nô.
Quân Hung Nô ỷ đông lại hừng
hực khí thế áp đảo quân Văn Lang, xông tới đánh quân Văn Lang như sấm sét, quân
Văn Lang chống trả không nổi thi nhau bỏ chạy.
Quân Hung nô thừa thắng xông lên rượt
đuổi truy sát quân Văn Lang, bổng trên không nổ lốp bốp sương mù phủ tới không
còn thấy chi cả.
Hung Nô Vương, trực tiếp chỉ huy ba đạo
quân tiến vào một lúc, với sức mạnh dời non lấp bể, quân Văn Lang không ngăn
cản nổi, Hung Nô Vương, là tay vô cùng hung bạo lại ỷ có pháp thuật, cùng kỵ
bịnh tiến vào phá trận, rượt đuổi truy sát quân Văn Lang.
Hung Nô Vương cùng ba đạo quân, kỵ binh,
bộ binh, xạ binh, tiến nhanh sâu vào trận thời không thấy quân Văn Lang đâu cả,
chỉ toàn là sương mù, Hung Nô Vương lấy làm kinh hãi định lui quân trở ra.
Thời mây trận cuồn cuộn phủ tới, che chắn
hết tầm nhìn người trước mặt nhìn không rõ, Hung Nô Vương càng thêm kinh hãi,
niệm chú hóa phép đánh vào mây trận, thời mây trận càng mạnh thêm, khí lực dồn
tới một cách kỳ lạ.
Hung Nô Vương ra lịnh rút
lui, rút lui, nhưng đâu còn kịp nữa, quân Văn Lang từ bốn phương tám hướng ẩn
theo mây trận đánh tới, chiêng trống dậy trời, quân reo dậy đất, tên, lao, bắn,
phóng ra như mưa bão.
Quân Hung Nô tài phóng lao, bắn tên, cỡi
ngựa, thời không ai bằng, nhưng không nhìn thấy địch thủ đâu cả, chỉ bắn phóng
bừa vào mây trận, hiệu quả không cao.
Quân Văn Lang nhờ vào mây trận chiếm ưu
thế, quân Hung Nô bị động không làm chủ được trận địa. Càng đánh quân Hung Nô
càng thiệt hại lớn, Hung Nô Vương lúc nầy không còn phân biệt đâu là Đông Tây Nam
Bắc, Hung Nô Vương hò hét tìm đường trở ra nhưng không tìm thấy đường ra đâu
nữa. Trước
mặt là đạo quân thiết giáp quân Văn Lang chiến
đấu dữ dội, Hung Nô Vương chỉ
còn con đường, tìm con đường sống trong con đường chết mà thôi.
Nói về Ngô Dụng thấy trên đài quan sát, phất cờ trận Trung Ương theo thế
chận đứng đường rút lui quân địch, tức thời điều khiển một vạn quân, trong đó
có đạo quân thiết giáp, chận đứng đường ra, không cho quân Hung Nô rút lui.
Về sau có thơ rằng:
Hung Nô kinh hãi rụng rời.
Lạc vào mây trận cuộc đời còn
chi.
Ngựa người dẩm đạp lên nhau.
Đầu rơi máu đổ ôi thôi kinh
hoàng.
Chiêng rền trống dội vang trời.
Gươm đao, giáo mác ầm ầm bủa vây.
Hung Nô chờ chết tan thây.
Còn xem tạo hóa mắn may thế nào.
* * *
HỒI
HAI SÁU
TỬ CHIẾN
Cùng lúc ấy nơi cánh Nam hành hỏa ngũ hành, Trần Bá ở trên đài quan sát, thấy quân
Ân trùng trùng lớp lớp, chia ra làm ba đạo quân, do Tướng Hổ Tinh tổng chỉ huy,
Hổ Tinh phất
cờ bộ binh, chỉ kiếm, tức thời đạo quân
bộ bịnh do Sa Lị, cầm đầu ào
ào xông vào trận.
Nói về Tôn Nghị Tướng Văn Lang nhìn thấy trên đài quan sát thấy cờ phất
chận đứng đánh quân địch tại cửa trận, tức thời điều động bộ binh xáp chiến, gươm
đao giáo mác đinh tai nhứt óc.
Về sau có thơ rằng:
Chiến trận vang rền giáo, đao, gươm.
Quân Ân cuồn cuộn tiến xông lên.
Văn Lang binh lính đầy
dũng khí.
Thét gào lao tới quyết tử sinh.
Con đường trung hiếu luôn phía trước.
Tiêu diệt quân thù lũ ngoại xâm.
Một mất một còn vì non nước.
Hào khí Anh Linh chí Cha Ông.
Hổ Tinh thấy sức chiến đấu quân Văn Lang như vũ bão, tức thời phất cờ đạo quân xạ tiển xông lên,
bắn vào đạo quân Văn Lang như mưa, quân Văn Lang chống cự không lại bỏ chạy, quân
Ân thắng thế ào ào rượt đuổi, bổng nghe chiêng trống nổi lên ầm ầm, đội quân áo
giáp Văn Lang xuất hiện, chận đánh đạo quân xạ binh quân Ân, sức mạnh như dời
sông lấp biển. Đạo quân xạ binh quân Ân tiến lên không nổi.
Hổ Tinh thấy thế, hét lên một tiếng, điều động kỵ binh xung
trận, khí thế như cuồng phong vũ bão, đội quân áo giáp đánh không lại, Dương Phàm ra lịnh rút lui.
Ba đạo quân Ân thừa thắng xông lên, rượt
đuổi quân Văn Lang, bất thình lình sương mù xuất hiện. Quân Ân không còn thấy
quân Văn Lang đâu nữa, hoang mang kinh hãi. Quân Văn Lang tức thời phản công như
sấm sét.
Về sau có thơ rằng:
Văn Lang nào phải nuốt dễ xơi
Gặp phải Tiên Rồng chết như chơi
Giặc Ân một lũ điên cuồng ngớ
Bỏ mạng sa trường xác thây phơi
Nói về Tướng chỉ huy xạ binh
quân Ân, là Hạ Phu, kinh khiếp trước
trận pháp ngũ hành, thấy mây trắng, mây đen che phủ bảo bọc quân Văn Lang, vì thế quân Văn Lang không
khác gì đạo quân ma quỹ, không thấy đầu, không thấy đuôi, quân Văn Lang thời
thấy rõ quân Ân, quân Ân vô cùng bất lợi, càng đánh càng thất bại.
Hạ Phu thúc
quân xông vào mây trận, Hạ Phu xông lên hò hét, không ngờ quân Văn Lang vô cùng
lợi hại, hạ gục quân Ân như hạ gục đàn chó dại, Hạ Phu phi ngựa bỏ chạy.
Bổng một tiếng quát nổi lên
như sấm, chạy đâu cho thoát, tức thời tướng Văn Lang xuất hiện, thanh đại đao
trên tay chém tới nhanh như tia chớp.
Hạ Phu múa giáo chống trả,
choang đinh tai nhứt óc, Hạ Phu kinh hoảng, đao pháp gì mà mạnh thế, định phóng
ngựa tẩu thoát, nhưng không còn kịp nữa một tia chớp nổi lên thế Hạ Phu trúng
một đao chết tốt, người giết chết hạ phu chính là Tôn Nghị.
Nói về Sa Lị đang bị bao vây trong làn tên mũi giáo, ra sức chống trả. Dương Phàm dương cung bắn một phát
trúng ngay vào cổ, Sa Lị té nhào
xuống ngựa chết tốt.
Quân Ân như rắn mất đầu hổn
loạn vô cùng, Hổ Tinh kinh hãi thúc
quân phá vòng vây tìm lối ra, nhưng bị đạo quân thiết giáp đánh bật trở vào, người
chỉ huy đạo quân thiết giáp Văn Lang chính là Khơ Lan.
Khơ Lan, tả xông hửu đột, điều khiển quân binh, đội quân thiết
giáp vô cùng linh hoạt, quân Ân lớp lớp bị hạ gục.
*
* *
Nói về cánh Bắc hành thủy, quân Ân cũng
đang sa vào thảm cảnh sắp bị hủy diệt, Chiên
La đang bị bao vây trong làn tên mũi giáo, sắp mất mạng đến nơi, nói chung
quân Ân thua to nếu không phá được cờ trận.
* * *
HỒI HAI BẢY
TỬ
CHIẾN
Đây nói về, Hồ Nhất Tinh, Hồ Nhị Yêu, Hồ Tam Quỉ, Ân Mao Vương, Nghịch Phong.
Đồng loạt bay lên không xem
xét trận ngũ hành, thấy mây đen, mây trắng, cuồn cuộn che phủ trận ngũ hành
không thấy gì cả, khí lực ngũ hành tuôn lên cuồn cuộn, sát khí ngùn ngụt, đã
hơn một giờ mà chưa có cách phá trận.
Ân mao vương lấy làm lo, vì quân Ân đã xông vào trận địa, chiến trận nổ ra rền
trời rền đất, không còn chần chờ được nữa, Ân Mao Vương cỡi con Hồ Tiên bay xuống đánh phá cờ trận
trung tâm hành hỏa, Ân Mao Vương vừa lao
vào mây trắng , tức thời một đạo kim quan từ cờ đỏ trung tâm hành hỏa tỏa lên
tấn công.
Hồ Tiên liền thổi hắc quang chống trả, Ân Mao Vương rút bảo kiến
từ trên không chém xuống, bổng thấy một vị thần xuất hiện, bay lên chống trả,
chính là Hỏa Thần, hai bên đánh với nhau vô cùng ác liệt.
Ân Mao Vương,
nhờ học được ba thầy nên pháp thuật vô
biên, Hỏa Thần yếu thế hơn nhưng nhờ
thần lực cờ trận, nên Mao Ân Vương khó mà giành lấy phần thắng.
Ân Mao Vương quyết hạ gục Hỏa Thần kiếm báu
trên tay vung lên chém xuống lia lịa, kiếm khí tuôn ra chém tới ầm ầm Hỏa Thần
vung gậy phép lên chống trả, gậy qua kiếm lại ầm ầm đùng đùng dậy trời dậy đất,
đánh nhau cả trăm hiệp bất phân thắng
bại.
Cùng lúc ấy Nghịch Phong cỡi con huyết hản thần mã bay vào mây trận, vung kiếm
chém xuống lá cờ đen trung tâm hành thủy, tức thời một đạo hào quang từ lá cờ
đen tỏa lên chống trả ầm ầm long trời lở đất.
Nghịch Phong niệm chú hóa phép chỉ tay
một cái, tức thời một đạo khí phong bay tới lá cờ đen. Bổng một vị thần xuất
hiện đó là Thủy Thần, múa gậy chống đở, nghịch phong nổi giận quát ngươi là ai
mà dám đối địch với ta, Thủy Thần quát nhái ranh hổn láo, xem gậy lão Thần đây.
Tức thời chỉ gậy vào Nghịch Phong hô biến, tức thời cây gậy liền hóa ra một đạo
kim quang đánh tới, Nghịch phong chỉ kiếm niệm chú hóa ra một đạo kim quang
chống trả, hai bên đấu phép với nhau liên miên bất tận, Nghịch Phong quyết hạ
cho bằng được đối thủ, phi ngựa lao tới chém vào Thủy Thần, Thủy Thần múa gậy
chống trả, đánh với nhau cả trăm hiệp bất phân thắng bại.
Lại
nói về Hồ Nhị Yêu bay thẳng vào trung
tâm kim trận, đánh một chưởng xuống lá
cờ trắng, tức thời lá cờ trắng tỏa lên một đạo hào quang chống trả.
Hồ Nhị Yêu nhanh như chớp đánh liền ba
chưởng xuống lá cờ trắng, bất thình lình một vị Thần xuất hiện phất ba đạo kình
phong chống trả, đùng ầm ầm long trời lở đất.
Hồ Nhị Yêu quát
Kim Thần muốn sống thời biến ngay đi,
Kim Thần quát, không lo tu luyện còn giúp cho đồ đệ xâm lược quả là
ngươi đã tới số.
Hồ Nhị Yêu tức quá múa phất Trầm
đánh tới tấp vào Kim Thần, Kim Thần nào chịu kém, múa gậy Thần đánh tới tấp vào
Hồ Nhị Yêu, hai bên đanh nhau rền trời rền đất.
Gậy qua, Trầm lại hơn trăm hiệp bất phân
thắng bại, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía.
Cùng
lúc ấy nói về Hồ Tam Quỉ, đánh với
Mộc Thần.
Cả trăm hiệp bất phân thắng
bại, Mộc Thần múa gậy kình phong tuôn ra ầm ầm, Hồ Tam Quỉ múa đôi bàn tay sắt
vuốt nhọn chống trả.
Hồ Tam Quỉ nhanh như chớp chụp xuống lá
cờ xanh bổng một đạo hào quang tỏa lên, Tam quỉ
trúng tia hào quang đau buốt lấy làm kinh hãi.
Không còn dám coi thường lá
cờ trận, Tam Quỉ bị Mộc Thần tấn công, rất khó phá được cờ trận, hai bên đánh
nhau chưởng phong ầm ầm, chỉ phong véo véo, bất phân thắng bại.
Lại nói về Hồ Nhất Tinh, bay vào trung tâm ngũ hành trận, lao nhanh xuống lá
cờ vàng, đang phát ra uy lực vô biên, đánh xuống một đạo hắc quang, tức thời lá
cờ vàng tỏa lên một đạo hào quang chống trả, ầm ầm long trời lở đất, Hồ Nhất Tinh
múa phất trầm đánh xuống lá cờ trận, lá cờ trận tỏa hào quang chống trả, Hồ
Nhất Tinh không làm gì được. Hồ Nhất Tinh bằng ném một vật lên hư không niệm
chú, tức thời vật đó liền hóa ra một thanh xà kiếm, tỏa ào quang từ trên không
lao xuống hầu phá hủy lá cờ trận.
Bổng Thổ Thần xuất hiện, ném
gậy Thần chống đở, choang một tiếng đinh tai nhứt óc.
Hồ Nhất Tinh thâu phép lại, bay xuống
đánh với Thổ Thần, bất thình lình lao tới chụp lấy lá cờ.
Thời nghe một tiếng quát long
trời lở đất, trường đao vung lên như tia chớp chém tới Hồ Nhất Tinh. Hồ Nhất Tinh
múa phất trầm chống trả ầm ầm, kinh thiên động địa.
Hồ Nhất Tinh
quát.
Nguyên Minh
ngày tận số của ngươi tới rồi.
Thổ Thần
quát, loài yêu tinh hổn láo, Thổ Thần
múa gậy đánh tới như vũ bão, Nguyên Minh vì không biết bay chỉ biết đứng nhìn
Thổ Thần cùng Nhất Tinh hổn chiến.
Trên không trận chiến ầm ầm.
Dưới đất binh hùng xáp chiến kinh
thiên.
Ầm ầm đất chuyển trời rung.
Đùng đùng gươm giáo khiếp kinh ầm ầm.
* * *
Mặt trời sắp lặng non Tây.
Quân reo ngựa hí bủa vây không ngừng.
Kìa gươm giáo vang trời không dứt.
Chiêng, trống rền hò hét
liên miên.
Đất trời như muốn ngã nghiêng.
Cát bay đá chạy khiếp kinh mịt mù.
* * *
Hồ Nhất Tinh, đang đánh với Thổ Thần, bổng rùng mình hóa phép, yêu
tinh xuất hiện đầy trời, lao vào đánh với Thổ Thần, xáp chiến với Nguyên Minh.
Nguyên Minh múa đao kinh phong tuôn ra ầm
ầm chống trả với bầy yêu tinh.
Bổng nghe ầm ầm long trời lở đất, lá cờ
trận đã bị Hồ Nhất Tinh chém rách, tức thời sương mù, mây đen, mây trắng biến
mất, ngũ thần cũng biến theo.
Nguyên Minh vô cùng kinh hãi, lúc nầy chỉ
còn ngũ hành trận không còn cờ trận.
Nói về Ân Mao Vương nhìn xuống ngũ hành trận thấy quân Ân chết lớp lớp
chồng chất lên nhau, thời thét lên lao xuống múa đao chém Trần Bá không cho Trần Bá
điều khiển quân kỳ nữa, Trần Bá múa đao chống trả, hai bên đánh nhau vô cùng dữ
dội.
Còn Hồ
Tiên liền thổi ra một luồn khí độc Trần Bá xây xẩm mặt mày, Ân Mao Vương
lao tới chém một đao bỏ mạng.
Về sau có thơ rằng:
Ôi cái chết đi vào bất tử
Vì non sông Tổ Quốc hy sinh
Ôi cái chết tràn đầy uy dũng
Xác mất rồi nhưng hồn mãi Uy Linh.
* * *
Nói về Nghịch Phong đang đánh với Thủy Thần thời nghe tiếng nổ ầm ầm,
sương mù, mây đen, mây trắng, biến mất, Thủy Thần cũng tan biến tự bao giờ.
Nhìn xuống ngũ hành trận,
thấy quân Ân chết lớp lớp chồng chất lên nhau thời vô cùng kinh hãi, tuy mây
trận biến mất nhưng ngũ hành trận vẩn còn, nơi Trung Ương Hành Thủy Phan Lợi, phất cờ điều khiển quân binh
đánh quân Ân tới tấp.
Nghịch Phong
phi ngựa tới chém Phan Lợi, Phan Lợi
múa đao chống trả, hai bên đánh nhau ầm ầm, đường đao Phan Lợi vô cùng lợi hại,
Nghịch Phong khó mà làm gì được, bằng hóa phép cuồng phong nổi lên lên ầm ầm,
yêu tinh ma quỹ hiện ra xông tới đánh Phan Lợi.
Phan Lợi múa đao chống trả quyết liệt,
hào khí ngùn ngụt yêu tinh không làm gì
nổi Phan Lợi.
Nghịch Phong bằng lấy một thanh kiếm nhỏ
trong túi ra ném lên không niệm chú, tức thời một tia chớp lao xuống Phan Lợi
không tránh kịp đành bỏ mạng, Nghịch Phong phi ngựa xuống đất đánh quân Văn Lang
cứu quân Ân.
Phan Lợi tuy chết nhưng hồn vẩn Hiển Linh hóa ra sương mù che
chở quân Văn Lang.
Về sau có thơ rằng:
Thân ngã xuống nhưng hồn nào có chết.
Vẩn anh linh trong kiếp sống linh thiên.
Hóa mây mù luôn che chở quân binh.
Xác tuy mất nhưng linh hồn bất tử.
Chết là hết, nhưng nào đâu có phải.
Vẩn Anh Linh trong cuộc sống hiển
linh.
Kìa mây mù luôn che chở quân binh.
* *
*
Lại nói về Hồ Nhị Yêu, không hạ gục được Kim Thần, vô cùng tức giận những
không làm gì được, bổng nghe tiếng nổ ầm ầm, cờ trận cùng Kim Thần biến mất.
Hồ Nhị Yêu thấy Cự Lân phất cờ chỉ huy, liền lao xuống
đánh một chưởng, bổng thấy một người hiện ra đẩy Cự Lân bay sang một bên, ầm
một tiếng muốn sụp cả quan sát đài, Cự Lân nhìn rõ người cứu mình chính là Trần Bá.
Lúc nầy trời đã xẩm tối, Cự Lân phi thân
xuống đất lẩn vào quân binh Văn Lang, Hồ Nhị Yêu không nhìn thấy Cự Lân đâu nữa
bằng hóa phép đánh xuống quân Văn Lang. Bổng thấy một con Rồng hiện ra, Hồ Nhị
Yêu kinh hoảng tàn hình trốn mất.
Cùng lúc ấy Hồ Tam Quỹ định ra tay giết chết Huyền Trung, bổng thấy con Kỳ Lân xuất hiện, Hồ Tam
Quỉ kinh hoảng trốn mất.
Nói về Nguyên Minh nhìn thấy cờ trận rách nát thời kinh hồn bạc vía , mây
trận không còn biết khó mà chống đở nổi quân Ân.
Hồ Nhất Tinh,
thâu phép bay tới thổi ra một luồng
yêu khí định giết chết Nguyên Minh, bổng thấy một con Rồng hiện ra thổi một
luồng hồng quang, Hồ Nhất Tinh kinh hoảng trốn mất, Nguyên Minh thoát chết chưa
biết phải làm sao thời có người lên tiếng nói chủ soái mau trốn đi.
Người lên tiếng đó chính là Đa Kế, Lạc Hầu Công nói mau dồn quân
chạy về sông Tây Giang.
Tức thời pháo lệnh đỏ bắn lên, khẩu lệnh
truyền ra dồn
Quân về cánh Nam, trời lúc
nầy đã tối, ánh trăng soi đường, trận chiến còn vang dội, nhưng lúc nầy đã
nghiêng về phía quân Ân, nhờ có Ân Mao
Vương, Nghịch Phong, Hung
Nô Vương thần thông quảng đại, quân Văn Lang bị đánh thê thảm.
Được lệnh rút lui quân Văn Lang ào ào
chạy về phía Nam, đánh bật Hổ Tinh, chạy
về hướng Lũng Trung Châu,
bại binh chạy suốt cả đêm,
tới sáng thời tới Vân Châu, bại binh dừng nghĩ, người nào người nấy bò la bò
lết đi hết nổi, Nguyên Minh cho người kiểm lại quân binh thời chỉ còn hơn bốn
vạn, đi tiêu mất sáu vạn quân.
Nhìn lên trời than thở, không ngờ quân Ân
nhiều nhân vật tài năng như vậy, ngũ hành cờ trận mà cũng phá được, quân binh nghĩ không được bao lâu thời nghe
tiếng ngựa hí
từ xa vọng lại.
Nguyên Minh cùng các Tướng kinh hãi, quân
Ân đã đuổi theo đến nơi rồi sao.
Nguyên Minh nhìn lên trời nói, thôi thì quyết tử tại nơi
đây vậy, liền cho bắn pháo lịnh tử chiến.
* * *
HỒI
HAI TÁM
BẠI TRẬN
Đây nói về Cao Hải, hiệp lực với quân Xích Linh đại phá đánh bại 30 vạn quân
Hung Nô.
Lạc Hầu Công,
mời Cao Hải cùng các quan Tướng vào thành thiết đải, ăn mừng thắng
trận.
Cao Hải ở lại thành Xích Linh chưa được mấy ngày trong lúc đang bàn Quốc Sự thời có quân vào báo.
Đô Tướng Quân có thư.
Cao Hải nhận
thư đọc xong thời nước mắt ràng rụa, ai nấy cũng đều kinh hải tự hỏi chuyện gì
thế. Trải qua một hồi lâu dằn cơn xúc động, Cao Hải nói, Cao Sơn chết rồi, Cao Hải liền đưa thơ cho các Quan Tướng xem.
Lạc Kim Tiên
xem xong nói. Quân Ân dồn hết lực
lượng phá doanh trại ngũ hành trận, đây là cơ hội cho chúng ta, cướp phá lương
thực chúng, rồi từ phía sau đánh bọc tới, tiêu diệt chúng, chỉ cần một trận nầy
chiến thắng thời quân Ân sẽ khiếp kinh hồn vía.
Lạc Hồng Hầu
nói. Muốn tới Kinh Đô nhanh thời phải
đi qua đồi Mục Linh.
Đồi Mục Linh hiện giờ quân Ân đang phục
kích ở đó, chỉ còn có cách là đi đường vòng, bọc qua đồi Mục Linh, rồi bất ngờ
xông vào cướp doanh trại của chúng.
Lạc Hầu Vương
nói quân Xích Linh cùng tham gia trận
chiến Đô Tướng Quân cứ ra lịnh.
Cao Hải nói. Thành Xích Linh không thể bỏ trống, phải có quân
binh trấn thủ. Trong lúc còn đang bàn tán, thời có quân thám báo vào báo.
Quân Ân giao chiến với quân ta hơn nửa
ngày rồi, thời gian quá gấp Cao Hải từ biệt, Lạc Hầu Công cùng các quan tướng thành
Xích Linh, triển khai lực lượng, phân bổ như sau.
Phan Thanh
Hải, nghe lịnh Có thuộc hạ
Ngô Việt nghe lịnh. Có thuộc hạ.
Hai Tướng Quân một trưởng, một phó, thống
lĩnh một vạn quân mở đường đi trước, còn đại quân đi sau, tuân lịnh,
đi đường vòng hơi xa mặt trời
chưa lặng quân binh đã lên đường rồi.
Nói về Phan Thanh Hải, Ngô Việt, mỗi người thống lãnh một vạn quân đi
trước, đạo quân Thanh Hải tiên phong đi trước, đạo quân Bố Chánh Ngô Việt tiếp theo sau bọc đường vòng qua
khỏi đồi Mục Linh hơn 10 dặm ánh trăng vằn vặt, nếu đôi mắt sáng thời nhìn thấy
tận xa xa, khi đạo quân, Thanh Hải, Ngô Việt qua khỏi đồi Mục Linh thời không
còn lo sợ phục kích nữa.
Nói về Hung Quân Liệt, theo kế sách của Ân Mao Vương, chia làm hai đạo
quân, phục kích đi đường vòng của quân Văn Lang, nằm im chờ đợi.
Hung Quân Liệt thấy quân Văn Lang xuất
hiện, thời khen Ân Mao Vương liệu tính như thần.
Thấy Quân Văn Lang đã nằm gọn trong ổ
phục kích, nhưng Hung Quân Liệt không
tấn công, để cho đạo quân Thanh Hải đi qua lọt vào vòng vây thứ hai, khi đạo
quân Ngô Việt lọt vào ổ phục kích.
Hung Quân
Liệt nói đây mới chính là đạo quân
chủ lực, chờ cho đạo quân Ngô Việt lọt vào vòng vây, thời Hung Quân Liệt thổi
tù tấn công, thế là tên bắn ra như mưa, quân Văn Lang bị đánh bất ngờ kinh hãi
rối loạn, không rõ quân địch để mà chống trả.
Nói về Phan Thanh Hải thúc quân duy chuyển nhanh về Kinh Đô Nam Kinh Xích
Quỹ, thời nghe phía sau đạo quân trận chiến đã nổ ra ầm trời ầm đất, không lẽ
đã bị phục kích, liền cho quân dừng lại không tiến nữa.
Tiến tới không được lùi lại không xong, chưa
biết phải làm gì thời nghe quân reo dậy đất quân Hung Nô ào ào lao ra tấn công,
tên bắn như mưa, quân Văn Lang bị tấn công bất ngờ hốt hoảng rối loạn, quân Hung
Nô chủ động trận địa đánh tới tấp, quân văn lang chết như rạ.
Phan Thanh
Hải thét lớn bình tỉnh chiến đấu, tức
thời quân Văn Lang lấy lại bình tỉnh chiến đấu quyết liệt, xông lên xáp lá cà
với quân Hung Nô.
Về sau có thơ rằng:
Một bên là lính Văn Lang.
Một bên là giặc bạo tàn ngoại xâm.
Quân giặc cuồn cuộn xông lên.
Chủ trì trận địa giáo gươm ầm ầm.
Văn Lang bị động hoàn toàn.
Thây nằm la liệt khắp cùng xiết bao.
Tinh thần quyết tử dâng cao.
Chỉ còn hơi thở cũng nào xông
lên.
Hung Nô cũng phải khiếp kinh.
Văn Lang quyết tử dâng lên cuộn
cuồn.
Hung Nô thiệt hại cũng nhiều.
Mới hay con cháu Tiên Rồng Uy
Linh.
Dù cho đất lở trời nghiêng.
Tinh thần quyết tử hùng anh lạ đời.
Kinh thay dòng máu Lạc Hồng.
Tử sanh, sanh tử, lông hồng nhẹ
tênh.
Hy sinh vì nước vì dân.
Linh hồn nhẹ bổng chín tần Trời Cha.
Vì non vì nước vì nhà.
Tử sanh, sanh tử, sá gì như không.
* * *
Quân Hung Nô thấy Phan Thanh Hải, múa đao chém quân Hung Nô như chém chuối, tức thời
quân Hung Nô tập trung bắn tới Phan Thanh hải, Phan Thanh Hải trúng tên khắp cả
mình đành phải bỏ mạng.
Quân Văn Lang tuy rắn mấy đầu nhưng không
bao giờ bỏ chạy, người nầy ngã xuống người khác xông lên, chiến
đấu đến hơi thở cuối cùng, quân
Hung Nô khiếp vía kinh hoàng, trước khí phách hào hùng quân Văn Lang.
Nói
về Ngô Việt biết mình đã lọt vào ổ
phục kích của quân giặc, từ nơi ẩn núp quân Hung Nô bắn tên ra như mưa, quân
Văn Lang vô cùng hổn loạn.
Ngô Việt thét lớn bình tỉnh chiến đấu, tử
chiến tử chiến, tức thời quân Văn Lang
hò reo dậy trời dậy đất, lao vào quân Hung Nô như vũ bão, tiếng gào thét tiến
lên tiến lên, thế là trận đánh xáp lá cà,
gươm đao giáo mác dậy trời dậy đất. Về
sau có thơ rằng:
Ầm ầm trận đánh kinh thiên.
Đao gầm, kiếm thét, liên miên ầm ầm.
Tên lao rợp đất rợp trời.
Thân người ngã gục xác người như non.
Chiến trường nổi gió nổi dông.
Quân binh ào tới giáo gầm kiếm tuôn.
Rền trời hai tiếng xung phong.
Giáo gươm xối xả ôi thôi bịt bùng.
Đùng đùng vang dội đùng đùng.
Văn Lang quyết tử, mất còn tại đây.
* * *
Nói về Hung Quân Liệt thấy quân Văn Lang chiến đấu anh dũng như thế cũng
phải khiếp hoảng.
Quân Văn Lang gan đồng dạ sắt chăng, coi
cái chết như không, không lẽ đây là tinh thần Quốc Đạo Văn Lang, được kể qua
truyền thuyết, Hung Quân Liệt càng khiếp hãi,
Nói về Bố Chính Ngô Việt, thương tích đầy mình, cố thúc ngựa phá vòng vây
lao ra khỏi trận địa chạy về phía đại quân Văn Lang đang đi phía sau.
Đây
nói về Cao Hải nghe chiến trận nổ ra phía trước liền
biết là hai đạo quân tiên phong đã sa vào ổ phục kích
của quân giặc, liền cho đại
quân dừng lại, với tinh thần chuẩn bị chiến đấu cao, khi có quân địch tấn công.
Cao Hải phi ngựa lên phía trước xem xét tình hình, thời
thấy Ngô Việt mình đầy máu me cỡi
ngựa lao tới, nói tướng quân mau cho quân rút lui, quân giặc phục kích khắp
nơi, nói xong Ngô Việt tắc thở.
Cao Hải đau xót vô cùng, biết là quân Ân
đã lường trước tất cả, đón được ý đồ của chúng ta, phục kích chận đánh khắp
nơi, nên không dám rút quân về thành Xích Linh, sợ quân giặc phục kích đánh bọc
hậu.
Nên nhanh chóng rút quân về Huyện An Giao,
quân đi đến gần sáng, tưởng là đã thoát ra khỏi sự phục kích của quân giặc, đại
quân vừa mới chạm chân đến Huyện An Giao, thời nghe tiếng tù nổi lên, hai bên
đường tên bắn ra như mưa. Quân Văn Lang bất ngờ hốt hoảng.
Cao Hải thúc quân tiến tới, chống trả nhanh chóng thoát ra
khỏi ổ phục kích của giặc.
Quân giặc, ào ào rượt đuổi theo, quân Văn Lang không chạy về
Huyện An Giao, mà chạy về Vân Châu.
Nguyên Hạo
Hạo chạy trước mở đường khi đến Vân Châu
thấy có quân phía trước, thời vô cùng kinh hãi, quày ngựa trở lại báo với Cao
Hải.
Bẩm Đô Tướng Quân, phía trước có quân mai
phục, Cao Hải giật mình kinh sợ, thở dài nói quân giặc tài đến thế sao,Ý Trời
đã thế, chúng ta đành bỏ mạng tại Vân Châu vậy.
Cao Hải cho quân dừng nghĩ dưỡng sức, rồi quyết một trận sanh
tử với giặc. Đến khi nhìn thấy pháo lệnh tử chiến, biết đây là pháo lệnh của
quân Văn Lang, Cao Hải mừng rở vô cùng, cho bắn pháo lệnh đáp trả, để nhận ra
nhau.
Nguyên Minh
thấy pháo lệnh nói đó là quân ta,
quân của Đô Tướng Quân Cao Hải, Nguyên Minh
biết Cao Hải cũng đã thất bại, nên mới chạy đến đây.
Không bao lâu Cao Hải dẩn tàn
quân chạy đến, Nguyên Minh Cao Hải ôm nhau mà rơi nước mắt, hơn hai mươi vạn
quân giờ chỉ còn không đầy mười vạn, một tổn thất nặng nề, Nguyên Minh cũng cố
lại lực lượng, xin viện binh từ Kinh Đô Văn Lang, chờ cơ hội đánh trả, chận đứng
không cho quân Ân tiến vào Trung Văn Lang, Nguyên Minh chưa có tin tức gì về
Nguyên Dực.
* * *
HỒI HAI CHÍN
PHÁ TRẬN
Đây
nói về Nguyên Dực, cùng quân binh
nhờ trận ngũ hành giặc Ân chưa làm gì được, lại còn đánh cho quân giặc tả tơi
chết vô số kể, định tiến quân ào ra tiêu diệt quân Ân, nhưng thấy quân Ân còn
đông như kiến, không thể nào đánh bại được.
Lại
nói về Sát Sát, ỷ mình quân đông lại
có pháp thuật, có thể phá trận ngũ hành dễ dàng, không ngờ không phá được lại
đi tiêu hơn bốn vạn quân giờ mới biết sợ hải,
lập đàng cầu sư phụ.
Không
bao lâu thời một Đạo Cô xuất hiện, tên là Hồ Bạch Hoa. Sát Sát lễ lạy, rồi
nói rằng con đang gặp phải khó khăn, lời đồn quả không sai phương Nam có trận
ngũ hành vô cùng lợi hại, không dễ gì phá được.
Hồ Bạch Hoa
ta biết vậy nên đến đây giúp con, phương
Bắc nhà Chu cũng có ngũ hành trận, nhưng không lợi hại như ngũ hành trận phương
Nam .
Vì ngũ hành trận phương Nam ,
kèm theo ngũ kỳ trận uy lực vô biên, muốn phá được ngũ hành trận, phải phá ngũ
kỳ trận trước, nếu không có công tu luyện hàng nghìn nghìn năm thời không bao
giờ phá được.
Bằng thắp hương lâm râm niệm chú, không
bao lâu thời có hai Đạo Cô, một Đạo Tiên xuất hiện.
Hồ Bạch Hoa, giới
thiệu hai Đạo Cô, Hồ Bạch Hoa chỉ Đạo Cô mặc áo xanh nói, đây là Thanh Xà Đạo Cô, còn đây là Tý Bạch Đạo Cô, còn đây là Bạch Hầu Đại Tiên,
Sát Sát theo
lời giới thiệu mà lạy tạ.
Sát Sát mời các sư phụ vào ghế ngồi, Hồ Bạch Hoa nói phá ngũ kỳ trận đều nhờ
hết vào Đại Tiên.
Bạch Hầu
Đại Tiên nói.
Bạch Muội,
chịu trách nhiệm đánh vào Tây kỳ, phá
cho được cờ trắng.
Thanh Xà
Đạo Cô, đánh vào đông kỳ, phá cho
được cờ xanh.
Tý Bạch
Đạo Cô, đánh vào Nam kỳ, phá cho cho được cờ đỏ. Sát Sát, đánh vào Bắc kỳ, phá cho được
cờ đen,
chỉ cần phá được một trong
năm kỳ, thời bốn kỳ kia tự biến mất.
Sát Sát
là người nóng lòng phá trận, bằng cỡi thiên lý mã bay lên không lao xuống
trung tâm Bắc kỳ trận, rút kiếm chém xuống lá cờ đen, không ngờ lá cờ đen tỏa
hào quang chống trả ầm ầm, kinh thiên động địa.
Sát Sát bị mây đen, mây trắng cuồn cuộn
bao vây che chắn tầm nhìn khó mà đánh trúng lá cờ đen.
Sát Sát tức quá cỡi ngựa thần lao xuống,
vung kiếm báu chém xuống ầm ầm, bổng Thủy Thần xuất hiện múa gậy
Thần chống trả, hai bên đánh
nhau rền trời rền đất.
Sát Sát hóa phép liên miên, nhưng bị thần
lực ngũ kỳ hóa giải cả, Sát Sát thất kinh.
Sát Sát võ nghệ cao cường áp đảo Thủy Thần,
bất thình lình Sát Sát lao xuống chém Hắc Kỳ một nhác như tia chớp, thời có
tiếng quát xem nầy, một lằn ánh sáng chớp lên chống đở, choang một tiếng đinh
tai nhứt óc.
Người ra đoàn chống đở đường kiếm của Sát
Sát là ai thế, còn ai vào đó nữa.
Nói về Lê Anh ở trên đài quan sát, thấy Sát Sát cỡi ngựa từ trên không lao
xuống chém vào Hắc Kỳ thời vô cùng kinh hãi, múa đao chống đở, choang một tiếng
đinh tai nhứt óc. Thủy Thần cũng múa gậy đánh tới.
Sát Sát múa kiếm chống trả, Sát Sát đảo
ngựa bất ngờ đánh xuống một chưởng, tức thời Hắc Kỳ tỏa hào quang chống trả ầm
một tiếng long trời lỡ đất.
Sát Sát quyết tâm phá cho được Hắc Kỳ, đã
trôi qua mấy giờ nhưng vẩn chưa làm gì được.
Cùng
lúc ấy Hồ Bạch Hoa múa phất trầm tới
tấp đánh xuống Bạch Kỳ, Kim Thần xuất hiện múa gậy chống trả, nhờ có thần lực Bạch Kỳ hổ trợ Kim Thần, nên
Bạch Hoa chưa thể hạ gục được Kim Thần, hai bên đánh nhau rền trời rền đất, Hồ
Bạch Hoa hóa phép liên miên nhưng chưa phá nổi uy lực Ngũ Kỳ.
Hồ Bạch Hoa phất tay một đạo chỉ quang
đánh xuống Bạch Kỳ, Bạch Kỳ tỏa hào quang chống trả ầm đinh tai nhứt óc, Kim
Thần múa gậy xông tới, đánh Bạch Hoa, Bạch Hoa múa phất trầm chống trả, hai bên
đánh nhau dậy trời dậy đất, bất phân thắng bại.
Hồ Bạch Hoa bất ngờ ném lên một vật, hóa
thành con chồn có cánh bay nhanh chụp xuống cờ trận, tức thời một tia chớp nổi
lên chém tới con chồn có cánh.
Ầm một tiếng, con chồn nát tan, ai mà có
đường đao nhanh đến thế, còn ai nữa chính là In Đô.
In Đô theo dõi trận chiến giữa Kim Thần và Bạch Hoa, nhất là chú ý Bạch Hoa, thấy Bạch Hoa ném ra
một vật, hóa thành con chồn lao xuống cướp lấy cờ trận, tức thời In Đô múa đao chém tới, con chồn trúng
một đao tan xác.
Bạch Hoa thấy
mất bảo bối vô cùng tức giận thét lên inh ỏi. Phất trầm trên tay phất lên lia
lịa, những trận cuồn phong tuôn ra tưởng chừng như đất trời muốn sập đến nơi, Kim
Thần múa gậy kình lực tuôn ra chống trả quyết liệt, ầm ầm đùng đùng liên miên
bất tận.
Cùng
lúc ấy Tý Bạch Đạo Cô, ra sức đánh
với Hỏa Thần. Hỏa Thần cũng không chịu kém, hai bên đánh nhau, mù trời mịt đất,
Tý Bạch múa phất trầm đánh Hỏa Thần tới tấp, bất ngờ biến mất, là cờ đỏ bổng tỏa
hào quang ầm ầm đùng đùng, Tý Bạch Đạo Cô chưa có cách nào phá được cờ trận,
lại bị Hỏa Thần tấn công tới tấp.
Tý Bạch Đạo Cô liền hiện nguyên hình một
con chuộc bạch to lớn, thổi ra một luồn bạch quang, xuống cờ trận tức thời hàng loạt tiếng nổ nổi lên rung chuyển
đất trời, đài quan sát như muốn sập, nhưng cờ trận vẫn còn không hề hấn gì, Hỏa
Thần ném gậy lên không niệm chú, cây gậy Thần tỏa hào quang đánh xuống, con
chuộc bạch tức thời biến mất, lao xuống
quan sát đài chụp lấy lá cờ trận.
Dương Điền
luôn theo dõi trận chiến giữa Hỏa
Thần với Tý Bạch Đạo Cô, thấy Tý Bạch Đạo Cô hiện nguyên hình là con chuộc bạch
to lớn, thổi ra luồng bạch quang, xuống lá cờ trận, Dương Điền sít chút nữa
thời bỏ mạng, thấy con chuộc bạch biến mất liền sinh nghi liền chém tới một
đao, đến chỗ lá cờ chỉ nghe nổ ầm một tiếng, hình như trúng phải một cái gì, con
chuộc bạch đở được đường đao của Dương Điền, liền hiện lại nguyên hình là Tý
Bạch Đạo Cô, Tý Bạch Đạo Cô định phóng ra một lưởi kim đao nhỏ xíu giết chết
Dương Điền, Hỏa Thần liền lao tới gậy Thần trên tay vùn vụt đánh tới tấp vào Tý
Bạch Đạo Cô, Tý Bạch Đạo Cô càng đánh càng kinh hãi không ngờ ngũ hành cờ trận
lại lợi hại như vậy.
Đây
nói về, Thanh Xà Đạo Cô, là một con
trăn tu luyện mấy nghìn năm, thần thông pháp thuật cao cường, đánh mới Mộc
Thần, Mộc Thần nhờ ứng hiệp theo cờ trận nên Thanh Xà Đạo Cô chưa làm gì được.
Thanh Xà Đạo Cô liền hóa ra một trận
cuồng phong hầu quét sạch mây trận, đánh tan che chắn tầm nhìn, không ngờ mây
trận lại cuồn cuộn tuôn ra dữ dội hơn nữa.
Thanh Xà chỉ tay một cái, tức thời xuất
hiện một tia sáng đánh xuống lá cờ xanh, lá cờ xanh liền tỏa hào quang chống
trả, ầm ầm đùng đùng.
Mộc Thần múa gậy dông tố nổi lên ầm ầm
đánh tới Thanh Xà Đạo Cô, hai bên đánh nhau càng về sau càng dữ dội, Thanh Xà
vừa đánh với Mộc Thần, bất thình lình thổi ra một con trăn có cánh, bay xuống
cắn nát là cờ Thần, nào hay bị chém trúng một đạo biến mất, Thanh Xà Đạo Cô đau
đớn như trúng phải một đao, tức giận gầm lên hiện nguyên hình là một con trăn to lớn dài mấy chục
thước, mồm con trăn phun ra lửa dữ, hầu đốt cháy sạch quan sát đài.
Nói về Lô Gô, chém trúng con trăn nhỏ do Thanh Xà Đạo Cô thổi ra, Thanh Xà
Đạo Cô tức giận hiện nguyên hình là một con trăn to lớn dài mấy chục thước, miệng
khè ra lửa, đuôi quật lên dông bão ầm ầm
làm khiếp kinh quân binh, Hỏa Thần ném gậy lên không niệm chú, gậy Thần
tỏa ra hào quang sấm nổ nổi lên sấm sét đánh xuống. Con trăn to lớn biến mất, những
tiếng nổ ầm ầm liên miên bất tận, Lô Gô bị kình lực giao tranh giữa cờ trận,
Hỏa Thần, Thanh Xà Đạo Cô, hất rớt xuống quan sát đài, Lô Gô kinh hãi, cuộc
chiến Hỏa Thần, Thanh Xà Đạo Cô càng trở nên quyết liệt, Lô Gô bị trúng kình
lực ê ẩm cả mình, nếu không có áo giáp thời coi như toi mạng rồi.
Nói về Bạch
Hầu Đại Tiên, chiến đấu với Thổ Thần long trời lở đất chưa có cách gì phá
được cờ trận, bổng thấy Thần lực cờ trận yếu xuống, thời biết đây là cơ hội may
ra phá được, liền hóa phép tức thời yêu tinh quỉ dữ đầy trời xông vào đánh với
Thổ Thần, lao xuống trung tâm quan sát
đài đánh với Nguyên Dực.
Nói
về chủ soái Nguyên Dực ở trên đài
quan sát theo dõi trận chiến giữa Thổ Thần với Bạch Hầu Đại Tiên, bổng thấy yêu
tinh quỉ dữ xuất hiện đầy trời, lao xuống đài quan sát tấn công mình, Nguyên Dực
vốn võ nghệ cao cường, lại có pháp tuật thần thông nên chống trả lại yêu tinh
quỉ dữ, cuộc chiến xảy ra kinh thiên
động địa, bổng nghe một tiếng nổ long trời lở đất, cờ trận đã bị phá, lá cờ
vàng đã bị rách nát, sương mù, mây đen, mây trắng, ngũ thần biến tan hết thảy. Nguyên Dực kinh hoàng khiếp vía, ngũ
hành cờ trận mất đi thời sức mạnh huyền bí của quân Văn Lang không còn nữa, chỉ
còn nhờ vào cái tài điều binh khiển Tướng mà thôi.
Đây nói về Sát Sát thấy cờ trận tan biến
không còn vô cùng mừng rở nhìn thấy rõ quân Văn Lang, chỉ cần tiêu diệt năm vị
Tướng trên quan sát đài thời coi như ngũ hành trận bị phá vỡ.
Sát Sát liền cỡi ngựa lao xuống đài quan
sát chém Lê Anh múa đao chống trả, đường gươm Sát Sát nhanh
khôn tả, lại ẩn tàn một kình lực vô biên, Lê Anh múa đao như mưa sa bão táp
chém tới ầm ầm, con thiên lý mã bay lên không Sát Sát niệm chú tức thời một
trận cuồng phong nổi lên cuộn xuống Lê Anh.
Lê Anh không còn đứng vững được nữa, Sát
Sát lao xuống chém một gươm bỏ mạng, thế là cánh Bắc ngũ hành trận bị phá vỡ,
Sát Sát bay tới chỗ quân Ân ra lịnh tấn công.
Thế là Tào Bá, con của Tào Côn ra lịnh ba đạo quân binh ào ào xông vào Bắc
trận, quân Văn Lang chỉ còn ra sức chống trả.
Sát Sát hóa phép cuồng phong cuốn tới
quân Văn Lang tối tăm mù mịt nghiêng ngã quân binh, quân Ân lao tới chém như
mưa, quân Văn Lang thi nhau ngã gục.
Nói
về Thanh Xà Đạo Cô thấy ngũ hành cờ
trận đã bị phá, nhưng còn ngũ hành trận pháp cũng vô cùng lợi hại, nên bay
xuống giết chết Lô Gô phá vỡ trận
pháp.
Thanh Xà Đạo Cô thổi ra một luồng hắc khí
Lô Gô xây xẩm mặt mày, Thanh Xà Đạo Cô lao tới đánh một chưởng kết liểu mạng
sống Lô Gô.
Bổng một con Phụng Hoàng xuất hiện, hào
quang rực rỡ, Thanh Xà Đạo Cô khiếp vía, tàn hình trốn mất, Lô Gô thoát chết,
nhưng không còn đứng dậy nổi, quân binh thấy thế đưa Lô Gô xuống đài chửa trị.
Nói về Võ Vu thấy ngũ hành cờ trận
đã bị phá liền xua quân ào ào lao vào trận địa tấn công quân Văn Lang, quân Văn
Lang chống trả quyết liệt, hai bên đánh với nhau rền trời rền đất.
Thế là trận đánh kinh thiên.
Đao gầm kiếm thét liên miên ầm ầm.
Ngựa người lao tới rầm rầm.
Cuộn cuồn lớp lớp đạp càn lên nhau.
Kiếm đao xối xả như mưa.
Thây người ngã gục nào thua lở đồi.
Hai bên đánh xáp lá cà.
Chiến trường gào thét ôi là kinh
thiên.
Đất trời như muốn ngã nghiêng.
Cuồng đao, bão kiếm, mưa tên bịt
bùng.
Núi non rung chuyển đùng đùng.
Rồng Tiên, cọp, sói, tranh hùng
dậy non.
*
* *
Đây nói về Hồ Bạch Hoa, thấy ngũ hành cờ trận đã bị phá, nhưng ngũ hành binh
pháp vẩn vô cùng lợi hại, không dễ gì quân Ân chiếm lấy ưu thế, liền bay xuống
hạ gục In Đô, In Đô múa đao chống
trả, Hồ Bạch Hoa thấy In Đô võ nghệ cao cường, khó mà hạ gục nhanh chóng được, bằng
thổi ra một luồng hơi độc, In Đô xây xẩm mặt mày, Hồ Bạch Hoa bay tới kết thúc
sanh mạng của In Đô.
Sanh mạng In Đô chết sống trong đường tơ
kẽ tóc, bổng một con Rồng xuất hiện, múa vuốt chụp Bạch Hoa, Hồ Bạch Hoa khiếp
vía tàn hình trốn mất.
In Đô vì trúng độc mắt mở
không ra nằm yên bất tỉnh, quân binh khiêng xuống lo chạy chữa.
Cùng lúc ấy Tý Bạch Đạo Cô, đang chiến đấu
với Dương Điền. Dương Điền võ nghệ
cao cường, Tý Bạch Đạo Cô chưa thể hạ gục được ngay, bằng thổi ra một luồng yêu
thuật, bổng thấy một con chim điêu xuất hiện, hào quang sang chóa, Tý Bạch Đạo
Cô kinh hãi hóa ra một trận cuồng phong trốn mất.
Dương Điền, thấy quân Hồ tràn vô như nước
lở phất cờ chỉ huy đánh trả.
Quân Hồ bị hỏa trận quân binh Văn Lang vô
cùng lợi hại. Đánh quân Hồ tơi tả.
Hồ Mị Hoa phi ngựa tới hét lớn, niệm chú chỉ kiếm, tức thời
cuồng phong nổi dậy ầm ầm, ập tới quân Văn Lang, quân Văn Lang ngã rạp, quân Hồ ập tới chém rối
xả, quân Văn Lang chết thôi là chết.
Về sau có thơ rằng:
Dù cho nát thịt tan xương.
Cũng không lùi bước tiến lên diệt thù.
Kìa lũ giặc ào ào tràn tới.
Hỡi
xông lên tử chiến hùng anh.
Liệt oanh anh dũng liệt oanh.
Đánh cho quân giặc tan tành khói mây.
Thân ngã xuống hồn bay trận chiến.
Đánh quân thù tan biến tiêu ma.
Văn Lang non nước sơn hà.
Dễ gì cướp được yêu tà ngoại xâm.
* *
*
Nói về Bạch Hầu Đại Tiên, phá tan ngũ hành cờ trận, nhưng ngũ hành binh
pháp cũng vô cùng lợi hại, bằng bay xuống tiêu diệt Nguyên Dực.
Nguyên Dực võ nghệ cao cường
lại có pháp thuật, không dễ gì vài ba mươi hiệp, hạ gục được.
Bạch Hầu Đại Tiên liền hóa
phép, yêu tinh quỉ dữ bao vây bốn phía tấn công Nguyên Dực.
Nguyên Dực múa gươm chống trả,
đường gươm như mưa sa bão táp, yêu tinh tuy đông nhưng không làm gì được,
Bạch Hầu Đại Tiên nổi giận, liền
nhả ra một viên ngọc ném lên không hô biến, tức thời những tia hào quang chiếu
xuống, Nguyên Dực trúng phải những tia hào quang liền xây xẩm mặt mày, ngã gục
xuống sàn, yêu tinh quỉ dữ lao tới xé xác.
Bổng Hoàng Long xuất hiện, nuốt mất viên
ngọc tu luyện Hơn mấy nghìn năm mới thành, của Bạch Hầu Đại Tiên, Bạch Hầu Đại
Tiên kinh hồn bạc vía, tàn hình trốn mất, Nguyên
Dực thoát chết, nhìn thấy cánh Bắc, cánh Nam , đã bị quân Ân, quân Hồ phá vỡ.
Chưa biết phải làm sao thời có tiếng nói lớn chủ soái mau ra lệnh cho quân binh
phá vòng vây cánh Đông, chạy về Ninh
Châu, cố thủ.
Người lên tiếng đó chính là Hầu Thái Công.
Nguyên Dực
tức thời truyền lịnh cho quân binh
phá vòng vây cánh Đông.
Võ Vu chống
trả không nổi đành bỏ chạy, quân Văn Lang ào ào tuôn ra chạy về Ninh Châu, quân
Ân rượt theo một đoạn, không rượt theo nữa, vì lúc nầy trời đã tối.
Nguyên Dực dẩn tàn binh về
gần tới Ninh Châu, thời thấy Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân, dẩn
quân ứng cứu.
Hầu Thái Công, hỏi
sao biết quân ta thua mà ứng cứu, chúng
tôi luôn luôn cho quân thám báo theo dõi tình hình cập nhật liên tục trận chiến,
nghe nói mây trận đã bị phá vỡ, thời biết quân ta không thể nào chống cự lại
được, liền dẩn quân đến ứng cứu.
Khi quân binh về hết thành Ninh Châu, cửa
thành liền đóng lại phòng thủ nghiêm ngặt.
Lúc nầy Nguyên Dực cho người
điểm lại binh lính, thời đi tiêu năm vạn chỉ còn năm vạn, thời chỉ biết thở
dài.
Bằng hỏi qua tình hình, đồi
Vạn Lâm, cũng như đạo quân của Việt Luân
Tướng Quân.
Bạch Tướng
Quân, rơi nước mắt kể lại tất cả
những gì quân thám báo đã báo. Rồi nói rằng chiến dịch ra quân chúng ta đã bị bại
lộ, là do hai con quỉ nghe lén thông tin, sau nầy mới phát hiện được. Là vì
chúng tiếp tục nghe lén, khi phát hiện ra chúng thì chúng biến mất.
Quân Ân vì thế mà đi trước ta
một nước cờ, là do bại lộ thông tin, khi chúng ta bàn kế sách.
Chúng đưa quân phục kích đồi
Vạn Lâm trước ta, và tiêu diệt quân ta, Hầu
Tướng Quân, cũng như Chăm Ly bỏ
mạng, năm vạn quân chỉ còn hơn một vạn.
Không những thế quân Ân phục kích ở địa
phận Ninh Điền khi quân ta đi qua đường quanh co hiểm
trở, chúng liền tấn công Việt Luân Tướng
Quân bỏ mạng năm vạn quân chết sạch không còn một người.
Nguyên Dực
nghe xong thời than thở không thôi,
Hầu Thái Công nói
việc binh thắng bại là lẽ bình thường,
quân Ân lắm nhiều yêu tinh quỉ dữ, trợ giúp khó mà đánh lại chúng. Chủ
soái nói rõ tình hình quân giặc xin viện binh cũng cố lại lực lượng, quyết một
còn một mất với chúng.
Nguyên Dực nghe theo viết thơ
dâng lên Vua Hùng cầu thêm viện binh.
Vận nước suy vong nạn dập dồn.
Quân binh tướng sĩ lấp vùi chôn.
Hết thịnh tới suy thường là thế.
Huyền cơ tạo hóa luật nhân sinh.
Kiếp nạn Văn Lang Nguồn Cội mất.
Gieo mầm chinh chiến khổ đao binh.
Nước non lắm cảnh nhiều tai kiếp.
Chờ mong Quốc Tổ cứu sanh Linh.
*
* *
HỒI BA MƯƠI
KỲ TÍCH XUẤT HIỆN
Ở các thời kỳ Hùng Vương.
Anh Linh Quốc Tổ Long Đế Sùng
Lãm, người khai sinh ra nước Xích Quỷ
thời đại Kinh Dương Vương.
Long Đế Sùng Lãm chính là
Thiên Long Vương đầu thai, khi mãn kiếp trần gian trở về Trời.
Thường hiển Linh hiện về trên
khắp đất nước Văn Lang, nhất là thời hậu Hùng Vương.
Giúp cho dân Văn Lang luôn
trúng mùa, no cơm ấm áo,
Anh Linh Quốc Tổ Thiên Long Vương, Sùng Lãm, thường
hiện về, với hình dáng người mây, người mây to lớn, dấu chân Anh Linh Thiên
Long Vương Quốc Tổ to lớn, đi đến đâu là in dấu chân xuống đó. Không những ở
trên đất mà ngay cả trên đá, dấu chân Quốc Tổ Thiên Long Vương Sùng Lãm, không
chỉ có trên đất nước Văn Lang, Trung- Nam- Bắc Văn Lang, mà cùng khắp địa cầu,
cả Đông lẩn Tây, tạo ra những cơn mưa trái mùa làm cho hoa
màu, ngô, lúa, tốt tơi đem
lại sự no cơm ấm áo cho toàn nhân loại.
Thiên
Long Vương, ở trên Thiên Cung lâm phàm đầu thai xuống thế, khai sinh ra nước Xích Quỷ, mở ra thời đại Kinh Dương
Vương.
Truyền xuống chín đời, tới đời thứ mười, thời chuyển
sang giai đoạn thời đại Hùng Vương, nước Xích Quỷ được mở rộng trở thành nước
Văn Lang, 2959 trước Công Nguyên.
Anh Linh Quốc Tổ, thời đại Kinh Dương Vương, thường hiện về để lại
dấu chân khắp nơi, với hình thể người mây khổng lồ to lớn, để lại dấu chân cũng
to lớn.
Người Nam Văn Lang gọi là dấu
chân ông Đổng.
người Bắc Văn Lang gọi là dấu
chân ông Khổng Lồ.
Anh Linh Quốc Tổ hiện về
không chỉ là hình người, mà chuyển hình người thành hình đám mây che phủ cả một
vùng rộng lớn, sau đó thời mưa như trút, những cơn mưa trái mùa, làm cho ao hồ,
suối sông, sung mạch trở lại,
người dân được trúng mùa lớn.
Lúc thời chuyển thân thành hình xoắn ốc,
tạo ra những cơn bão lốc, cuốn đi tất cả những ai ăn lộc Trời mà không
biết kính trọng Trời, những
kẻ bất kính đối với đấng sanh thành tạo hóa.
Chuyện lạ ấy cứ xuất hiện mãi, ăn sâu vào
tâm thức của mỗi người dân.
Có
những lần dân thấy Anh Linh Quốc Tổ hiện về, tạo ra cảnh mưa to gió lớn trái
mùa, chỉ trong vòng có một ngày mà khai ra nhiều dòng chảy, thành sông thành
lạch, đem phù sa về bồi đắp cho làng
quê, dân chúng lại trúng mùa lớn, càng thêm no cơm ấm áo.
Người dân Nam Văn Lang đã quen gọi sự Anh
Linh Quốc Tổ là Ông Đổng.
Có lần dân thấy Ông Đổng tuy là người mây, nhưng lại
có hai con mắt sáng chóa.
Bàn tay Ông Đổng hể chạm xuống núi, là
núi đó không còn, chỉ trong vòng một đêm ngọn núi biến mất, vì Ông Đổng trút
nước xuống làm trôi đi hết, Ông đem đất ấy lấp xuống chỗ sâu, tạo ra những cánh
đồng bát ngát, dân chúng vì thế mà có nhiều ruộng để canh tác.
Nơi
nào xem nhẹ quyền Tạo Hóa, xem thường Thiên Ý của Trời, thời Ông Đổng sẽ lấy đi
tất cả, mùa màng thất bát, đồng khô cỏ cháy, vì không có những cơn mưa trái
mùa, đói khổ vô cùng.
Có lần dân chúng thấy Ông Đổng, có lần
tạo ra những cơn mưa trái mùa khai ra dòng chảy, vun đất thành đồi, tạo ra sấm
sét đánh tan những cơn dịch bịnh, hơi thở Ông Đổng phun ra mây đen cuồn cuộn,
làm dịu đi cơn nóng oai bức.
Ông
Đổng khổng lồ thường xuất hiện trong những ngày đầu hè, giữa hè, cuối hè, đem
lại nguồn nước Trời, cho cây cối, hoa màu, ngô, lúa, tốt tươi.
Anh Linh Quốc Tổ xuất hiện để lại dấu chân
khắp nơi, nhưng nhiều nhất là ở làng Gióng, nổi tiếng là quê hương xứ sở vườn
cà, cà ở làng Gióng coi như là đặc sản được đưa đi giao dịch trao đổi khắp nơi.
Và cũng từ làng Gióng nầy, xảy ra một kỳ
tích
được coi như là một huyền
thoại chuyện lạ nhất trên đời truyền tụng mãi cho đến ngày nay.
*- Bắc đầu từ câu chuyện vườn cà.
Xốm dừa nhìn bãi dâu xanh.
Gió thu ru nhẹ lá cành làng quê.
Cánh cò bay lã bay la.
Bay qua bến nước bờ tre ruộng đồng.
Trâu nhìn đò chạy trên sông.
Mục đồng chăm chú nhìn trông cánh dều.
Khói lam tìm ánh nắng chiều.
Đàn chim nhẹ cánh tìm về núi non.
Bao la trời nhớ đất thương.
Non
xanh nước biết vấn vương đất trời.
Ánh trăng vằn vặt đêm về.
À ơi tiếng hát ngọt lành mẹ ru.
Ánh đèn soi dáng người thân.
Sạm da vì bỡi gió sương tháng ngày.
Hồ thu nhớ ánh trăng đầy.
Nhớ hừng đông dậy, nhớ gà báo tin.
Gâu gâu chó hỏi người đi.
Vườn cà làng Gióng có ai giữ gìn.
Người rằng có một người hiền.
Tên là Phù Thị xấu người đẹp tâm.
Mười năm ở với Đức ông.
Công, dung, ngôn, hạnh,
khéo khôn ai bì.
Đức ông cảm thấy hài lòng.
Xem như con cái chẳng hề so đo.
Vườn cà chăm sóc sớm hôm.
Lòng vàng tỏa sáng còn hơn ngọc ngà.
Tiếng hiền cứ mãi bay xa.
Đến tai Thượng Đế, Trời Cha, Chúa Trời.
Huyền cơ chuyển biến tất thời.
Thiên Long Sùng Lãm xuống trần đầu thai.
Vườn cà để lại dấu chân.
Trong đêm mưa gió bão dông đùng đùng.
Bình minh rực rỡ chân trời.
Gió thu hôn nhẹ vườn cà xanh xanh.
Phù Thị nhẹ gót nhanh nhanh.
Vườn cà một lược nên hư thế nào.
Chợt nhìn kinh ngạc làm sao.
Dấu chân to lớn nao nao lòng người.
Phù Thị ướm thử chân vào.
Tự nhiên thấy cả thân người chuyển rung.
Tâm hồn kinh hãi hoang mang.
Trong người khác lạ càng thêm hãi hùng.
Từ đây Phù Thị âm thầm.
Dấu đi tất cả những gì xảy ra.
Ngày qua tháng lại ngày qua.
Bụng càng to lớn dấu đi được nào.
Tránh sao được tiếng xì xào.
Không chồng mà chửa phạm vào làng qui.
Cuộc
đời họa phúc éo le.
Mấy
ai tránh khỏi xưa nay thường hằng.
Sau
đây câu chuyện của người.
Sử Kinh
để lại cho đời xem coi.
Sự
đời là tấm gương soi.
Cho
bao thế hệ đời sau răn mình.
* *
*
Ở vào thời hạ Hùng Vương, đời Hùng Vương
thứ 6
Hùng Huy Vương, 961 đến 893 trước Công Nguyên,
ở bộ Vũ Ninh, Huyện Tiên Du, nơi làng Gióng.
Có hai vợ chồng gàu có, là nhờ những vườn
cà do ông bà Tổ Tiên để lại, nổi tiếng là đối nhân xử thế, ăn ở phúc Đức, nên dân
làng thường gọi hai ông bà , là Đức ông , Đức bà, Đức ông, Đức bà, chỉ nuôi một
người làm vườn, tên là Phù Thị, quê
ở làng Phù.
Cũng giống như Đức ông Đức bà, hiền lành
nức tiếng, nhưng phải người hơi xấu,
không được dễ coi, nên không có người dạm hỏi, tuổi thanh xuân vì thế mà trôi
qua, tuổi trung niên như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã hơn bốn mươi tuổi, hơn
hai mươi năm ở với Đức ông Đức bà,
Phù Thị lúc
nào cũng xem Đức ông Đức bà như Cha Mẹ của mình, Đức ông Đức bà cũng vậy vì
không có con, nên coi Phù Thị như con.
Thời gian không chờ đợi ai cứ mãi trôi
qua, hết ngày nầy đến ngày khác, hết năm nọ đến năm kia, Phù Thị sống cuộc sống
bình yên, như mặt nước hồ thu không gợn sóng.
Chữ ngờ ai biết được đâu.
Chỉ trong nháy mắt bể dâu cuộc đời.
Hồ thu nổi sóng ngậm ngùi.
Phải chăng số phận con người Trời ban.
Ở làng Gióng trải qua một đêm
mưa gió, sấm chớp hải hùng, hoa màu bị hư hại.
Khác
hơn mội khi Phù Thị hôm nay dậy rất
sớm, vì lo sợ vườn cà bị mưa to gió lớn làm hư hại.
Trời vừa hừng sáng Phù Thị đã
ra vườn cà, thời vô cùng ngạc nhiên vì vườn cà vẩn xanh tốt, như không có
chuyện gì xảy ra, trong khi các vườn cà nhà kế bên xơ xác.
Phù Thị nghĩ có lẽ Đức ông Đức bà ăn ở
hiền lành nên có Thần Linh che chở bảo hộ, nên vườn cà không bị hư hại như thế
nầy, Phù Thị đang đi xem xét các luống cà,
bổng phát hiện một dấu chân to
lớn.
Bà Phù Thị lấy chân mình ướm thử vào, để
xem thua kém bao nhiêu, không ngờ vừa ướm chân vào thời thấy toàn thân rung
động, chạy khắp người bà Phù Thị vô cùng kinh hãi, không dám kể lại chuyện kỳ
lạ nầy với Đức ông Đức bà. Không ngờ sự ướm chân thử đó, bà Phù Thị dần dần
mang thai, cái bụng càng ngày càng lớn.
Đức ông Đức bà kêu Phù Thị
hỏi, Cha nó là ai quê quán nơi đâu, Phù Thị cứ mãi làm thinh không không nói ra
sự thật. Đức ông Đức bà giận lắm, quát mắn ta không ngờ ngươi là con đàn bà
cứng đầu không biết lễ giáo như thế, làm những chuyện tày trời, mà không biết
xấu hổ gì cả.
Phù Thị biết rưng rưng nước
mắt nói, ông bà tha tội cho con, chuyện nầy con đâu có muốn, nhưng số con như
thế con đành phải chịu.
Bây giờ đã ra người tội lỗi.
Mặt
cho đời nước chảy hoa trôi.
Hóa
công sao khéo trêu ngươi
Một mình một cảnh như người lạ xa.
Phước trong họa chuyển xây nao ngán.
Nhằm thân nghèo xấu xí mà xây.
Nhân duyên số phậm láy lay.
Chờ xem tạo hóa chuyển xây cuộc đời.
Trong khi ấy dân làng cứ mãi
xầm xì, bàn tán lan rộng ra khắp các vùng, tai tiếng của Đức ông Đức bà không
nhỏ,
nhất là Đức ông, là người
mang tiếng hơn hết.
Nào là Đức ông lấy con ở, cũng
phải thôi phải có người nối dòng, nối dõi chứ, ăn ở hiền lành mà tuyệt nòi
tuyệt giống sao được, nhất là Đức bà vì không chịu được sự đàm tiếu nầy, bằng
yêu cầu làng xét xử.
Ngày xét xử bà Phù Thị, không những
người trong làng Gióng, mà nhiều người dân trong các làng lân cận cũng kéo đến
xem. Lạc Điền, là vị Quan làng nghiêm khắc đã từng xử không biết bao nhiêu vụ,
nhưng đều trôi chảy êm xuôi, để được làm rõ vấn đề. Vị Quan làng hỏi, nầy bà Phù
Thị, Cha của đứa bé trong bụng là ai, tại sao không chịu ra mặt nhận trách
nhiệm của mình, bà cứ nói thật đi ai là Cha của đứa bé trong bụng, bà Phù Thị
không sợ hãi gì cả, trả lời thẳng thắng, đứa bé trong bụng là con của Ông Đổng.
Những người đến nghe đều giật cả mình, ông
Quan làng há mồm trợn mắt, Đức ông Đức bà như muốn bật ngửa, ông Quan lấy lại
bình tỉnh hỏi, bà Thị bà nói sao, đứa bé trong bụng bà là con Ông Đổng, bà
không sợ Ông Đổng bẻ cổ bà sao, và ai cũng nghĩ bà Thị đã hóa điên, xúc phạm
đến Thần Linh.
Quan làng hỏi Ông Đổng ăn ở với bà thế
nào, bà Phù Thị dõng dạc nói, không ăn ở thế nào cả, tôi chỉ ướm chân tôi vào
chân của Ông thế là tôi đã mang thai.
Nghe bà Thị trả lời như thế
ai nấy đều cười ồ lên, có người nói mỉa mai rằng, mai tôi tới những chỗ có dấu
chân ông Đổng ướm vào để sinh con. Và ai cũng cho bà Thị là người làm bậy xấu
hổ quá hóa điên, Đức ông coi như không dính liếu gì đến vụ nầy, nên không tham
gia ý kiến tùy Quan làng xét xử.
Lạc Điền, Quan làng tức giận nói, bà nói toàn là những chuyện vô
căn cứ, lừa dối mọi người, với cái tội không chồng mà chửa làm xấu mặt cả làng.
Cùng lúc xét xử ấy cũng không ít người
mắn nhiếc bà, có người mắn nhiếc thậm tệ.
Bà Phù Thị chỉ biết rơi nước mắt, chấp
nhận số phận, mà Đấng Tạo Hóa đã an bày.
Chỉ trong chốc lác bà già đi thấy rõ, có
người thương xót cho số phận của người con gái không may mắn xinh đẹp như người
ta, giờ lại thêm tai họa giáng xuống.
Hồng trần trong cõi người ta.
Mấy ai thoát khỏi nạn tai cuộc đời.
Thương người cũng chính thương mình.
Hại người Trời hại thường tình
xưa nay.
Dân làng Gióng cứ nghĩ bà Phù Thị vụng
trộm ăn ngủ với người ta không chịu khai nhận tội một mình. Để lắng dịu sự mắn
nhiếc của dân làng, Quan làng xử như sau.
Theo
hương ước của làng, thời tội nầy đáng xử tử, nhưng nể Đức ông Đức bà, chỉ trục
xuất bà Phù Thị ra khỏi làng.
Bà Phù Thị biết không còn ở với dân làng
được nữa, một mình lủi thủi đi về nơi rừng núi cách làng Gióng khá xa.
Lủi
thủi xa làng đến núi non.
Chân
đầy nặng triểu bụng mang con.
Chim
kêu vượn hú lòng trống vắng.
Thảo mãng hoang vu dạ sắc son.
Bà đến gần mé rừng ngồi dưới một gốc cây,
bà nhìn những chiếc là vàng, rời khỏi cành trở về với đất, một nổi niền cay
đắng, biết tỏ cùng ai.
Lá vàng nầy hỡi lá vàng rơi.
Lá theo cánh gió về nơi Cội Nguồn.
Còn ta lạc bước phong sương.
Rừng xanh che chở náo nương tháng ngày.
Bà Phù Thị mệt lã ngủ thiếp đi lúc nào
không hay, đến khi thức dậy thời thấy chim muôn vạn thú đến ở xung quanh bà,
chúng đem đến nhiều trái cây hoa quả, bà đã đói mấy ngày, nên bốc lấy ăn ngấu
nghiến.
Đêm về các nàng Tiên hiện đến dựng cái
chòi tranh để cho bà ở, hơn cả tháng dân làng không biết, dân làng không thấy
bà xuất hiện, hàng đêm nghe tiếng hổ gầm voi hú, dân làng đồn rằng bà bị cọp ăn
thịt rồi, có người cũng lấy làm thương xót cho số phận con người, ngày lại ngày
qua bà sống bình yên trong túp lều tranh.
Thế là cuộc sống tạm yên.
Non
xanh nước biếc cũng yêu Thị bà.
Rừng xanh sai quả sai hoa.
Để
bà sanh sống vượt qua cơ hàn.
Sống đời cô độc một mình.
Sớm chiều làm bạn thú cầm mua vui.
Xuống đồng bắt ốc mò cua.
Đem ra làng đổi kiếm ăn qua ngày.
*
* *
Bà Phù Thị ngoài ăn hoa quả, bà còn xuống
đồng, xuống mương bắt ốc mò cua sanh sống còn đem ra làng đổi lấy gạo, nuôi
thân.
Dân chúng thấy bà xuất hiện vô cùng kinh
ngạc bà không bị cọp ăn thịt sao, không thể tin được, ở một mình trong rừng hơn
cả tháng mà vẩn bình yên đây mới là chuyện lạ. Ban đầu dân còn ấn tượng không
tốt với bà, có những ngày không đổi được gạo đành đem cua ốc về nấu ăn. Nhưng
vì cuộc sống nuôi thân nuôi con, bà luôn luôn nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại,
chịu khó dần dần dân chúng không còn ghét bà nữa, ngược trở lại thương bà, từ
đó bà mò cua bắt ốc đổi lấy gạo rất thuận lợi.
Bà yêu chim thú như yêu bản thân mình,
nên chim thú thường đến với bà, và gúp đở bà, trong những ngày mưa gió, cũng
như những ngày bà không bắt ốc mò cua.
Lòng chân thật động lòng chim thú.
Làm bạn đời khuya sớm có nhau.
Màn trời chiếu đất náo nương.
Hổ, voi, chim chóc đến chung một nhà.
Chim ca hát, hổ gầm voi hú.
Làm trò vui giải trí giải sầu.
Làm cho người mẹ vui vầy.
Quên đi nổi khổ tháng ngày cô đơn.
Dân làng thấy bà Phù Thị ở nơi hoang vu
rừng núi, chim kêu vượn hú, tối về hổ voi gầm rú suốt đêm, mà bà Phù Thị vẩn
bình yên, không hề hấn gì cho là có Thần Linh che chở, nên không coi Phù Thị là
người xấu nữa.
Có những lần bà Phù Thị xuống đồng mò cua
bắt ốc, nhưng không được bao nhiêu. Bà liền khấn vái rằng.
Nếu Trời thương hại mẹ con tôi, thời cho
tôi bắt thật nhiều cua ốc, thế là bà mò đến đâu thời có cua có ốc đến đó. Nên
lúc nào cũng bắt được nhiều cua ốc, đổi được nhiều gạo dự trử nuôi thân, trong
lúc những ngày mưa gió.
Dân làng thấy bụng bà đã lớn, biết cũng
sắp đến ngày sanh nở, có người thương còn cho thêm gạo.
Có một hôm bọn trẻ con thấy bà Phù Thị một
mình trở lại rừng xanh, bằng hát rằng,
Lanh quanh đường đến rừng xanh.
Có người phụ nữ bước chân nặng nề.
Vai mang gạo bụng thè lè.
Chịu thương chịu khó ai bì được đâu.
Sau có người hỏi ai dạy cho mà hát như
vậy, bọn trẻ trả
lời có một Ông Già xuất hiện
dạy hát như thế.
Bổng
một hôm bà Phù Thị, nghe trong mình khác lạ, bằng tính đi tính lại, mang thai
đã tròn mười hai tháng,
Thường
thường mang bầu chín tháng mười ngày là sinh, có những lần bà Phù Thị nghĩ, Thánh
đầu thai nên mới khác thường như vậy, bà thường nghe có người mang thai đến ba
năm mới sanh, và bà vẩn cứ chờ đợi ngày khai hoa nở nhị, và rồi ngày đó cũng
đến.
Bà
thấy trong mình chuyển dạ, lòng bổng lo lắng ở nơi hoang vu rừng núi thời biết
nhờ ai giúp đở, bà thở dài thôi thì mặt cho số phận vậy.
Nghe trong dạ từng cơn đau thắt.
Như báo rằng con sắp chào đời.
Niềm vui quên hết đau thời.
Chỉ mong con trẻ rạng ngời bình yên.
Kìa
rừng đã lặng yêm đêm phủ.
Sương đã về ru ngủ tịnh yên.
Cô đơn trong lúc đẻ sinh
Chỉ nghe gió thổi rung rinh căn lều.
Đèn không có mịt mù tăm tối.
Sao chị hằng chậm thế chưa lên.
Ruột
càng quặn thắt liên miên.
Bổng nghe hương tỏa lan thơm khắp cùng.
Nghe trong dạ nhẹ nhàng nhẹ bổng.
Nhiều nàng Tiên bồng ẳm hài nhi.
Mệt nhoài bà đã thiếp đi.
Chừng nghe chim hót mới hay sáng trời.
Nhìn con trẻ lòng đầy sung sướng.
Con của ta là Gióng, Gióng ơi.
Bình minh rực rỡ chân
trời.
Bao la rừng núi tràn đầy ấm êm.
Nói về bà Phù Thị thấy trong mình chuyển
dạ, thời đã biết mình sắp sinh, nhưng ở nơi hoang vu rừng núi nầy, biết nhờ cậy
ai, trời đã lặng, đèn không có, chỉ còn biết trông chờ ánh trăng lên, bà bổng
thấy một con Rồng xuất hiện rồi biến mất, sau đó thời sanh con, hương thơm lan
tỏa khắp nơi, bà thấy Tiên nữ xuất hiện, bồng ẳm hài nhi nhưng vì mệt quá bà đã
thiếp đi, và không còn biết gì nữa, chừng nghe tiếng chim hót liếu lo giật mình
tỉnh giất, thời mới hay trời đã sáng, ánh bình minh đã tràn về khắp núi non,
một ngày mới, một ngày đẹp nhất của đời bà, các nàng Tiên cũng biến đi đâu mất,
chỉ còn nghe mùi hương thơm lan tỏa khắp nơi.
*
* *
HẾT QUYỂN 2
XEM TIẾP QUYỂN 3
QUỐC BẢO CHÂN KINH
VĂN
LANG
CHIẾN
SỰ
2
THIÊN ẤN THIÊN BÚT
GÒ HỘI
ĐỨC PHỔ QUẢNG NGÃI
2013
QUYỂN 3
HỒI THỨ BA MỐT
THÁNH CHÚA RA ĐỜI
Niềm vui lớn nhất của bà Phù Thị là nhìn
thấy người con mà mình mang trong bụng bấy lâu, cậu bé dễ thương khôi ngô tuấn
đến lạ lùng, lòng dâng trào một niềm vui vô hạn
Lòng vui sướng nhìn con bé bổng
Mắt sáng ngời như tỏa hào quang
Khôi ngô tuấn tú dễ thương
Trời cho non nước Văn Lang kỳ tài
Bà ôm Gióng vào lòng triều mến
Tình thương con lai láng trào dâng
Cảm ơn trời đất non sông
Cho bà một đấng hùng anh sau nầy
*
* *
Nói về: Bà Phù Thị cứ mãi ôm Gióng vào lòng, mà quên đi cả đói
khác, từ đó bà Phù Thị không đi bắt ốc mò cua nữa, chỉ ở lều chăm sóc con thơ,
nhờ tích trử được khá gạo qua những ngày gian khổ bắt ốc mò cua, chim thú thi
nhau đêm thật nhiều hoa quả đến, để bà ăn có sửa nuôi con.
Suốt cả năm liền bà chỉ lẩn
quẩn túp lều tranh, dân làng không thấy bà đi bắt ốc mò cua, cũng như xuống
làng đổi cua ốc lấy gạo, thời nghĩ bà đã bị cọp ăn rồi, sói nuốt rồi,
Cũng không ít người rơi giọt
lệ, vì cảm thương số phận đây gian truân, xót xa đến thế.
Một hôm có người nói, nầy anh ba anh tư,
nầy chị bốn chị bảy, chúng ta là những người yêu thương bà Thị nhất, nhưng
không dám bao che giúp đở vì sợ quy ước của làng, nay bà chết hay còn sống chưa rõ, sao chúng
ta không đến đó một chuyến cho biết.
Có
người nói nơi bà ở có nhiều thú dữ lắm, chỉ có thợ săn mới dám đến đó mà thôi, chú
tư chú ba không thợ săn là gì, người kia trả lời, thế là họ âm thầm tìm đến khu
rừng bà Thị đang ở, nơi bà Thị ở là nơi cỏ dại hoang vu rừng núi cây cối rậm
rạp, không bao lâu thời họ cũng tới khu rừng xa xa nhìn thấy túp lều tranh.
Lòng họ bổng nổi lên bao nổi niềm thương
cảm, cho con người bất hạnh, nổi hiu quạnh cô đơn, một mình nơi rừng núi, sống
nơi hoang vu không một bóng người, không hiểu bà còn sống hay đã chết.
Và họ quá bất ngờ chợt nghe một giọng hát
ru con từ xa vọng lại, có người nói hình như là tiếng bà Thị.
À ơi con ngủ đi con.
Cho con mau lớn trông nom rừng già.
Con lên non núi cỡi voi.
Xuống đồng cỡi hạt bay qua ruộng đồng.
Trở thành những bậc anh hùng.
Cứu dân cứu nước giống nòi Rồng Tiên.
Có người nói bà sanh rồi, bà đang ru con
thì phải, và họ đi lần đến túp lều tranh. Nghe tiếng người nói, bà liền im
tiếng hát, và cũng nhận ra tiếng nói của những người tìm đến đây. Những người
rất thương yêu bà, và thường hay cho gạo bà,vừa bước vào túp lều tranh họ vui
mừng reo lên kìa em bé. Thì ra bà sanh con nên không đi mò cua bắt ốc xuống
làng đổi gạo.
Họ
thi nhau xem mặt em bé, người nào người nấy đều kinh ngạc, vì em bé quá khôi
ngô tuấn tú, nhất là cặp mắt sáng long lanh, chị tư liền nói con Trời có khác, tôi
mà có được đứa con như vầy thời khổ mấy tôi cũng chịu.
Chị bảy nói kìa cặp mắt em bé giống cặp
mắt Ông Đổng, chú tư chú ba nói tôi tin lời nói của chị Thị khi chị nói trước
dân làng, quả đúng là con Ông Đổng, chị bảy nói Ông Đổng đầu thai chớ con Ông Đổng
gì, kẻ nói qua người nói lại người nào cũng có cái lý của mình, nên không ai
chịu cho mình là đoán sai.
Nhìn
em bé quá kháu khỉnh không ai muốn xa rời, chừng nghe tiếng hổ gầm thời ai nấy
đều kinh hãi, họ liền từ giả Mẹ con Phù Thị trở về làng.
Cũng
từ đây tiếng đồn lan xa, bà Phù Thị sanh ra Ông Đổng con, khôi ngôi tuấn tú lạ
đời, một đồn mười, mười đồn trăm, trăm đồn nghìn.
Thế
là khắp nơi dân làng bị đánh thức sự tò mò, nhất là những người không gây ác
cảm đối với bà, họ rũ nhau kéo tới một ngày một đông, họ đem cho Phù Thị đủ thứ,
bà khỏi phải xuống đồng mò cua bắt ốc đổi lấy gạo nữa.
Nói về Đức ông Đức bà, nghe
bà con làng xã bàn tán ca ngợi, Phù Thị có phúc sanh ra bé trai vô cùng kháu
khỉnh, tôi chưa chưa từng thấy người nào khôi ngô tuấn tú như thế, hai con mắt
sáng như sao, quả đúng là một nhân tài sau nầy, quả đúng là con Ông Đổng, hay
Ông Đổng đầu thai cũng vậy, tôi mà có được người con như thế thời sung sướng
biết bao.
Đức ông Đức bà vô cùng ăn năng qua lối cư
xử không mấy sáng suốt của mình, cũng bỡi gì không chịu nổi sự tai tiếng mà bỏ
đi một cơ hội, hiếm có Trời cho.
Nhất là Đức ông cứ tiếc nối mãi, nước đổ
khó mà hốt lại, tuổi đả già lại sanh ra nhiều phiền nảo buồn rầu ăn năng không
bao lâu sanh bịnh qua đời.
Đức
ông qua đời không bao lâu, nỗi cô đơn một mình Đức bà cũng theo ông lìa trần
thế, dân làng ai cũng thương Ông Bà, nhưng cũng đáng tiếc cho Ông Bà, tiếng
lành, tiếng kính Ông Bà không còn như trước nữa, thay vào đó là tiếng ác, tiếng
dại.
Rừng công Đức trăm năm chăm
bón.
Chỉ một mồi lửa nóng đốt tiêu.
Tiếng lành đồn khắp bao nhiêu.
Biến thành tiếng ác đổi thay vận đời.
Nói về bà Phù Thị, nghe tin
Đức ông Đức bà qua đời ôm mặt khóc lóc, dù gì đi nữa Đức ông Đức bà không coi
bà là người ở, mà chỉ coi như con, ơn Đức ấy không sao đền đáp đáp được, bà Phù
Thị cầu nguyện cho Đức ông Đức bà sớm siêu sanh về Trời.
Túp liều không vắng lặng vì có nhiều
người đến thăm, nhưng lòng bà đau đớn, vì nỗi thương nhớ Đức ông Đức bà, cũng đúng
thôi, vì bà Phù Thị sống với Đức ông Đức bà trên 20 năm, tình nghĩa ấy không dễ
gì phai mờ được, nhìn bà khóc như vậy, những người đến thăm nói, Đức ông Đức bà
đối xử với bà không được tốt, thương khóc mà làm gì, kìa em bé nhìn bà kìa, tên
em bé là gì, ai nấy chờ nghe câu trả lời của bà.
Bà Phù Thị trả lời, tôi đặc tên cho con
là Phù Đổng, vì quê tôi ở làng Phù, quê con ở làng Đổng .
Dân làng đến thăm viếng nghe bà Phù Thị
đặc tên cho con hay làm sao, ai nấy cũng khen, có người nói chị kết hợp bộ ba
đặc tên cho con hay quá, có người nói tôi phải thầm phục cho chị Phù, chị kết
hợp làng Phù của chị, làng Đổng của con chị, cọng với tên Đổng Cha không lồ, ôi
cái tên vừa đẹp vừa Linh Thiên, Phù Đổng nghe hay quá.
Có người nói tên Phù Đổng Linh Thiên
quá, vì động đến Ông Đổng Long Đế Khổng Lồ Cha, không ai dám gọi đâu, chi bằng
xốm cà là xốm Gióng, thôi đặc cho em
một tên phụ là Gióng, ai nấy cũng cho
là quá phải, từ đó tên bé Gióng lan truyền khắp nơi.
GIÓNG
vẩn lớn bình thường như bao em bé khác,
Nhưng điều khác lạ ở đây là đã
gần ba năm mà Gióng không cười không nói, ngoài ăn uống ra gióng không muốn
chơi đùa với ai cả. Những người đến thăm viếng thiếu kiên nhẫn, cho đây là điềm
chẳng tốt đẹp gì, niềm tin đối với bé Gióng ngày càng càng giảm sút, tiếng đồn
lan ra dần dần cũng ít người đến
Bà
Phù Thị không lấy đó làm buồn, sự đời là thế, nghe Ông Đổng con thời ai cũng
đến, vì con Trời con Thánh, chừng khi nhìn không phải thời ai ai cũng dần dần
bỏ đi.
Có quyền có lực có uy.
Nghìn non vạn núi người ta cũng tìm.
Sa
cơ khốn khổ cùng đường.
Ở trong đô thị ai mà thấy chi.
Buổi chiều thu tuy rừng núi chưa chìm trong
vắng lặng, nhưng lòng bà Phù Thị đã chìm
trong nỗi buồn, cảnh nơi đây vốn là u tịch, lại thêm cuộc đời đơn chiếc.
Lòng buồn cảnh có vui đâu
Cảnh buồn người lại âu sầu cô đơn
Đúng thôi ngay cánh chim kia, khi chiều
tắt đã vội vã trở về, thế mà còn ta, ta về đâu nhĩ, thân nghèo lại bị người ta
ruồng bỏ, xa lánh.
*
* *
HỒI THỨ BA HAI
TRỞ LẠI QUÊ LÀNG
Bà
Thị nhìn con rồi nói thầm hãy đến một nơi khác đi con, nơi mà hai mẹ con mình
không ai biết đến, vì không muốn làm phiền đến ai nữa, bà bồng con đến sống
dưới bóng cây cổ thụ, cách nơi ở chỗ bà khá xa, trên một cái gò nổi giữa đầm.
Nơi
đây có nhiều hoa quả, dưới đầm thật nhiều cua ốc, bà no đủ qua ngày, các Nàng Tiên
lại xuất hiện, tắm rửa
cho Gióng, và thường nói với
Bà, GIÓNG là Thiên Long Vương xuống trần đầu thai, sau nầy lớn lên đánh giặc Ân
cứu nước.
Hơn
ba năm GIÓNG cứ nằm yên hết chỏng tre giờ đến chỏng đá, bà Thị nhìn con mà
trong lòng vô cùng thương cảm, lâm râm khấn rằng.
Con là Long Đế giá lâm.
Cớ sao con mãi nín câm thế nầy.
Bây giờ non nước nầy đây.
Giặc Ân xâm lấn ôi nầy khổ dân.
Con ôi hãy nói cười lên.
Con mau chóng lớn mà đi diệt thù.
Lời
cầu khấn Mẹ Gióng vừa xong.
Thời GIÓNG mở to đôi mắt, tỏa
ra hai đạo hào quang, cất tiếng kêu Mẹ đầu tiên vang lên như sấm, làm chấn động
đến núi rừng, làng bản.
Đến
lúc đó GIÓNG mới rời khỏi chỏng đá, nói với bà Thị rằng, hãy trở về làng sống
với dân chúng.
Nói về bà Phù Thị khấn vái xong liền thấy
Gióng mở to hai con mắt hai đạo hào quang tỏa ra sáng ngời, bà lấy làm kinh dị,
chừng nghe Gióng gọi Mẹ làm chấn động cả núi non làng bản, bà vô cùng mừng ỡ reo
lên, con đã nói cười được rồi con của ta bà ôm Gióng vào lòng.
Gióng để cho Mẹ lắng dịu qua cơn xúc động,
liền nói hãy trở về với dân làng đi Mẹ, dân làng đang trông đợi, kiếp nạn đã
hết.
Đây
nói về Huyện Tiên Du trúng mùa một cách kỳ lạ, nhất là hai làng, làng Phù, và
làng Gióng, cũng như xốm cà, lúa thời trổ hai bông triểu hạt, ngô khoai xanh
tốt trúng mùa lạ kỳ, nhất là vườn cà dân làng trúng mùa chưa từng thấy, dân chúng Huyện Tiên Du đang thu hạch trúng
mùa
lấy làm vui sướng vô cùng,
cho là điềm lành Trời đãi, Ông Đổng đã ban cho dân chúng trúng mùa, họ liền nhớ
đến Ông Đổng con, không hai mẹ con bà Thị hiện bây giờ đang ở nơi đâu.
Bổng
dân chúng thấy trên bầu trời, nhiều đàng chim bay khắp Huyện Tiên Du hát rằng.
Thánh
Gióng về làng, Thánh Gióng về làng
Kìa hai mẹ con, không bao lâu sẽ đến
Hãy mau tiếp đón.
Thánh gióng về làng.
Hãy mau tiếp đón.
Thánh Gióng về làng.
Đàn chim cứ bay trên bầu trời ca hát như
thế, dân chúng nghe theo kéo đến Làng Gióng đông như ngày hội, rồi ra khỏi làng
đi đón hai mẹ con Gióng.
Dân
chúng vừa kéo nhau ra khỏi làng, thời thấy voi, hổ, sư tử, đại bàng, chim điêu
đưa Mẹ con Gióng về làng, dân chúng thấy voi, cọp, sư tử, chim điêu, có người
sợ đến ngất xỉu, Gióng nói dân chúng không có gì phải sợ, tiếng nói như sấm
chấn động cả núi non làng bản. Đàn voi, đàn hổ, đàn sư tử, đàn chim điêu, không
tiển Mẹ con Gióng về làng nữa, mà quây trở lại về rừng, dân chúng giờ đây tuyệt
đối
tin Gióng chính là Ông Đổng
đầu thai, bằng thi nhau mà lạy,và gọi bé Gióng là Thánh Gióng.
Trời thương Bách Việt sơn hà.
Từ trong thảo mãng sanh ra Kỳ Tài.
Dân làng khắp nơi tiếp đón Mẹ con Gióng
vô cùng rầm rộ, để chuộc tội ngày xưa lầm lỗi xử oan cho bà Thị, ông Quan
trưởng làng Lạc Điền, dẩn cả nhà đến tạ tội, và xin nguyện cùng dân làm làm nhà
cho bà Thị ở.
Mẹ
con Phù Thị được dân làng khắp nơi sùng kính kẻ
gốp công người gốp của chỉ
trong vòng một ngày thời có một ngôi nhà khang trang sạch đẹp, dân làng nấu cơm
dân lên cho Mẹ con Gióng ăn.
Gióng nói ta sắp đi đánh giặc Ân, dân
làng hãy cho ta ăn thật no, ta mới đủ sức đánh giặc Ân được, dân làng nói Thánh
cứ ăn thật no.
Nhưng lạ thay Gióng ăn cơm với cà hết nồi
nầy sang nồi khác mà vẩn không thấy no.
Dân làng kinh hãi ăn như thế nầy thời cơm
gạo lấy đâu ra ăn cho đủ, dân làng thấy Gióng mau lớn một cách kỳ lạ, chỉ trong vòng ba ngày mà đã cao lớn như đứa
trẻ mười tuổi, chuyện kỳ lạ nầy đồn ầm lên khắp Huyện Tiên Du,
dân chúng thi nhau gánh cơm gánh
gạo, gánh cà đến nấu cho Gióng ăn.
Nhất làng Phù, quê bà Phù Thị, cùng làng
Đổng thi nhau dâng cơm dâng cà cho Đổng ăn.
Chỉ
trong vòng có mấy ngày mà tiếng đồn lan đến Kinh Thành.
Xốm Gióng
bừng lên Đấng Kỳ Tài.
Danh rền vang động đến bên tai.
Vua Hùng sai sứ xem hư thiệt.
Văn Lang kỳ tích rạng trời mây.
* *
*
HỒI THỨ BA BA
TRIỀU ĐÌNH
Trời
cho Bách Việt Việt Sơn Hà.
Lạc
Hồng nòi giống sanh ra Kỳ Tài.
Nói về Hùng Vương thứ 6, Hùng
Huy Vương, (Pháp Hải Lang,) 961 đến 893,
trước Công Nguyên. Gặp thời binh đao máu lửa nổi lên khắp Bắc Văn Lang, phần
thì giặc nội loạn, nhiều bách tộc Bắc Văn Lang nổi lên đòi tự trị, tự xưng Vua,
xưng Chúa, nổi lên chiếm lĩnh từng vùng, làm đau đầu cho triều đình.
Nhất là Hùng Huy Vương, ăn không ngon ngủ
không yên, ra sức dẹp yên nội loạn nhưng không được, trở thành cảnh nồi da nấu
thịt, Bách Việt Bắc Văn Lang tàn sát lẩn nhau, Đây là cảnh đầu tiên xảy ra trên
đất nước Bắc Văn Lang, nguyên nhân là bỡi hấp thụ nền văn hóa phương Bắc, đi
theo chiều hướng của phương Bắc, nổi lên đòi tự trị chia ra nhiều nước nhỏ, không
ai chịu dưới quyền ai, dẩn đến thôn tính lẫn nhau, trở thành cảnh Bách Việt nồi
da nấu thịt, dân chúng đồ thán khốn khổ vô cùng, cảnh chết chóc xảy ra hằng
ngày, lọt vào âm mưu của nhiều thế lực phương Bắc, chờ cho Bắc Văn Lang suy yếu
là chúng đưa quân xâm lược. Và điều đó cũng đã đến.
Hùng Huy Vương,
đã lấy làm đau đầu cho tình cảnh nội
loạn Bắc Văn Lang chưa giải quyết xong, thời quân Ân, quân Hồ, quân Hung Nô, đã
tràn qua xâm lược.
Với thế mạnh của ngoại xâm tràn qua Bắc
Văn Lang như nước lở, tiêu diệt sạch những ông Vua Việt mới nổi lên đòi tự trị,
đây là điều đáng mừng cho nước Văn Lang, nhất là Hùng Huy Vương. Nhưng quân xâm
lược không chỉ chiếm lấy Bắc Văn Lang, mà muốn nuốt trọn nước Văn Lang, một thứ
giặc vô cùng đáng sợ, lại hết sức tàn bạo, chúng đi đến đâu thời dân Văn Lang
trở thành nô lệ thảm khốc đến đó, chúng vơ vét sạch chẳng chừa một thứ gì, cảnh
sợ hãi làm cho dân Văn Lang ăn ngủ không yên.
Nước non binh lửa dậy khắp nơi.
Dân chúng khổ sai hận ngập trời.
Móng vuốt sói lang loài ác quỹ.
Xốm
làng thê thảm chúng nuốt xơi.
Hùng Huy Vương,
đưa quân chống trả nhưng đều thất
bại, hết Tướng tài, bằng ra cáo thị cầu hiền tài khắp đất nước ai có tài thời
ra cứu nước, sẽ được phong Quan Chức lớn, không ít người ra cứu nước nhưng tất cả đều đi
vào thất bại. Tin thất trận dồn dập báo về Triều Đình, làm Hùng Huy Vương càng
thêm lo lắng, lập đàn cầu Trời, cầu Tổ ngày đêm không dứt.
Thỉnh thoảng nàng mây tự ngẩn ngơ.
Quê
hương binh lửa tự bao giờ.
Khắp nơi tràn ngập mùi chết chóc.
Xốm làng vắng ngắt cảnh xác xơ.
Hồn nghe rét buốt luồn trong gió.
Quê gầy, làng úa, xốm héo khô.
Nước non tan tóc quân giặc xéo.
Tràn ngập hung tin nát cơ đồ.
Ngày nào cũng vậy Triều Thần đi dự hộp
đầy đủ, Quan Văn Quan Võ đủ mặt, lúc nào cũng bàn kế sách chống giặc Ân, có lẽ
các Quan Văn Võ cũng đã hết mưu kế, nên mấy ngày nay không ai đưa ra kế sách gì
mới.
Hùng Huy Vương, lấy làm buồn phiền, nhưng
rồi cũng phải hỏi các Quan Văn Võ có kế sách gì mới không? các Quan chỉ biết im
hơi lặng tiếng.
Khi ấy có một vị Quan Lạc Thư chuyên coi về
sổ sách, bước ra tâu rằng.
Bẩm Quốc Vương, Bệ Hạ: Thần nghe ở Huyện
Tiên Du có một cậu em tên là GIÓNG, nói sẽ đi dẹp giặc Ân, theo Thần nghĩ Quốc
Vương Bệ Hạ nên cho mời em bé ấy đến ban cho ấn lệnh đi chống giặc Ân.
Triều Thần nghe Quan Lạc Thư tấu trình
như vậy thời cười ô lên.
Hùng Huy Vương hỏi các khanh cười chuyện
gì, các Quan trả lời, các Quan trả lời .
Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ: Quan Lạc Thư
nghĩ giặc Ân toàn là trẻ con chắc, nên mới đề cử chuyện lạ đời như vậy, Tài
giỏi như Nguyên Dực, Nguyên Minh, như Cao Sơn, Cao Hải, đành phải bó tay thất
trận, xin thêm 20 vạn quân nữa may ra mới chống trả lại ngăn bước tiến quân Ân.
huống chi chỉ là một trẻ con, lời đồn
nầy chỉ là khích lệ tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm mà thôi, xin Bệ Hạ minh
xét.
Hùng
Huy Vương nghe các Quan tâu cũng có lý, ý định cho qua không bàn tới nữa.
Bổng có một vị Quan Lạc Hầu lên tiếng.
Bẩm Quốc Vương, Bệ Hạ: Theo Hạ Thần nghĩ
lời Quan Lạc Thư cũng có lý, lúc này là lúc cần người tài ra giúp nước, dù
người đó là ai, bà già, trẻ con, người dân bình thường mà nổi tiếng như vậy, thời
cũng nên xem xét, thực hư, Hạ Thần sẽ đảm nhiệm việc nầy tới làng Đổng xốm Gióng
để xem hư thực ra làm sao, thế là Vua Hùng giao nhiệm vụ cho Quan Lạc Hầu
Thượng Thư.
Đây
nói về Quan Lạc Hầu Thượng Thư, đến Huyện Tiên Tu nghe dân chúng đồn ầm khắp
nơi, Gióng là người Trời có khác ăn hoài mà chẳng thấy no chỉ trong vòng ba
ngày Gióng cao lớn một cách kỳ lạ.
Quan Lạc Hầu Thượng Thư đi
gần đến làng Gióng thời thấy dân chúng kẻ khiêng gạo người khiêng cà, tới xốm
Gióng tấp nập.
Quan địa phương Lạc Điền, nghe có Quan
Thượng Thư từ Triều Đình đến, liền tiếp đón tử tế.
Hành lễ xong, Quan Lạc Điền hỏi, bẩm Quan
trên Quan trên đến làng, xốm nghèo khổ nầy chẳng hay có chuyện gì,
Quan Lạc Hầu Thượng Thư nói, ở đây có
chuyện Thánh Gióng thật sao?
Bẩm Quan lớn, quả là đúng như vậy, Thánh
Gióng chính là Ông Đổng Khổng Lồ đầu thai, Ông ăn dữ lắm có lẽ Ông ăn hết sạch
lúa gạo dân chúng mất.
Quan Thượng Thư càng nghe càng kinh
khiếp, sau đó Quan làng Lạc Điền, dẫn Quan Lạc Hầu Thượng Thư đến gặp Gióng,
khi ấy Gióng không phải là trẻ con, mà là một thiếu niên. Quan Thượng Thư vừa
đến chứng kiến thấy Gióng vừa ăn hết mấy chảo cơm, thời quả lời đồn không sai. Gióng
nghe Quan làng giới thiệu vị Quan mới đến là Quan Lạc Hầu Thượng Thư, vị Quan
lớn thuộc hàng bậc nhất bậc nhì trong Triều, ai nấy nghe xong cũng đều kinh
hãi, Gióng như không nghe lời giới thiệu đó, chỉ thi lễ mời vị Quan Thượng Thư
ngồi, vị Quan Thượng Thư không dám khi dễ đáp lễ rồi cùng ngồi.
Vị Quan nóng lòng không chờ đợi lâu lên tiếng
hỏi, hỏi tới đâu Gióng trả lời thông suốt đến đó, vị Quan đến
Giờ nầy mới thật sự kinh hãi,
liền vái lạy Gióng, cầu xin Gióng hãy cứu lấy nước non.
Ta
lâm phàm xuống trần là để cứu nước cứu non trả lại sự bình yên cho dân chúng, nhưng
ta có những yêu cầu Triều Đình phải chu
cấp cho thật đầy đủ.
Quan Thượng Thư nói Thánh yêu cầu gì,
Thần về sẽ tâu lên Quốc Vương.
Gióng nói cấp cho ta thật nhiều lương
thực, nuôi đủ mười vạn quân trong một tháng, vận chuyển đến đây,
Mười tấn thép, mười tấn sắt, một
nghìn thợ rèn giỏi, năm nghìn lượng vàng, một nghìn con ngựa chiến, nghìn cung
tên tốt, hàng vạn mũi tên
Nhớ là sắt, thép, vàng, không thiếu một
cân, thợ rèn không thiếu một người, ngựa phải đủ không thiếu một con, cung,
tên, nhất nhất đều đúng như vậy, phải đúng là trong vòng nữa tháng tất cả đều
có đủ không thiếu một món nào, thời ta sẽ đánh tan giặc Ân, trong vòng nữa
tháng.
Vị Quan Thượng Thư nghe Gióng nói
tới đâu lấy làm kinh hãi đến đó, liền từ biệt Gióng cấp tốc về Kinh Đô
trình tấu lên Vua Hùng.
Sau có thơ rằng:
Quan về Quan nói với Vua.
Xuất kho mười tấn thép nguyên ta dùng.
Chọn cho nghìn vị thợ rèn.
Đưa thêm mười tấn sắt, đồng, cho mau.
Kim loại sạch đã luyện tôi.
Đưa thêm nửa tấn vàng nguyên ta dùng.
Cấp cho lương thực thật nhiều.
Để ta no bụng tiến hành diệt Ân.
Ngựa nghìn con, vạn vạn cung tên
Để cho chiến sĩ xông lên diệt thù.
Hãy về tâu với Triều Đình.
Không nên để thiếu dù là nửa cân.
Trong vòng một tháng không hơn.
Thời ta đánh bại quân Ân tơi bời.
Giặc Ân khiếp vía kinh hồn.
Hết mong xâm lấn cõi bờ Văn Lang.
Nước non trở lại bình an.
Thái bình thịnh vượng giàu sang yên lành.
Mau mau không được trể chầy.
Trong vòng nửa tháng phải thời có ngay.
Nói
về Lạc Hầu Quan Thượng Thư lấy làm vui mừng vì chứng bao chuyện lạ của Gióng, bằng
nhanh chóng trở về sáng ngày cho kịp buổi Chầu Vua.
Hôm nay là ngày đẹp trời không còn u ám
như ngày hôm qua, ánh bình minh rực rỡ như báo hiệu nước non sắp yên bình trở
lại, các Quan đi chầu rất sớm.
Trên
bệ Rồng Hùng Huy Vương nói Trẩm thấy hôm nay khỏe khoắn lạ kỳ có lẽ là điềm
lành xuất hiện chăng, các Quan cũng đồng thanh nói, muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ
chúng Thần cũng cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, không hiểu là có điềm lành gì.
Hùng
Huy Vương kiểm lại các Quan thời chỉ thiếu Quan Lạc Hầu Thượng Thư vì còn bận
công tác đi đến làng Gióng chưa về, Hùng Huy Vương nói không hiểu ở làng Gióng
hư thật thế nào, trẩm nóng lòng quá, Hùng Huy Vương vừa dứt lời thời thấy Quan
Lạc Hầu Thượng Thư bước vào, Hùng Huy Vương lấy làm mừng nói rằng Quan Thượng
Thư quả thật Linh Thiên, vừa nhắc đến thời có ngay. Các Quan vô cùng hồi họp
chờ lời xác minh của Quan Thượng Thư về đứa trẻ nơi làng Đổng xốm Gióng, với vẻ
điềm nhiên của Quan Lạc Hầu Thượng Thư, làm cho các Quan càng thêm sốt ruột, Hùng
Huy Vương nói Quan Thượng Thư sao bửa nay ông tấu trình chậm thế.
Đến lúc nầy Quan Thượng Thư
mới tấu trình rằng.
Muôn Tâu Quốc Vương Bệ Hạ,
quả xốm Gióng đã xuất hiện Thánh Gióng, cả Triều Đình ai nấy cũng đều ồ lên có
Thánh Gióng xuất hiện thật sao.
Quan Thượng Thư nói nhưng sự yêu cầu
Thánh Gióng không phải là nhỏ, Hùng Huy Vương nói Thánh Gióng cần bao nhiêu vạn
quân, bốn mươi vạn hay năm mươi vạn.
Muôn Tâu Quốc Vương Bệ Hạ,
Thánh Gióng không yêu cầu thứ đó.
Nghe
lời nói của Quan Thượng Thư, không chỉ các Quan Văn Võ, mà ngay cả Hùng Huy Vương
cũng bất ngờ phải nói là vô cùng kinh ngạc, Hùng Huy Vương ngơ ngác Thánh Gióng
yêu cầu thứ gì, quá mức của triều đình ta chăng, Quan Thượng Thư nói có thể nói
là quá mức, nếu không quyết tâm thời khó mà thực hiện được.
Hùng Huy Vương nóng ruột nói, khanh cứ
nói đại ra triều đình ta có đáp ứng được không.
Đến lúc nầy Quan Lạc Hầu Thượng Thư mới đi vào
vấn đề chính, kể lại tất cả những gì tai nghe mắt hấy, ai nấy cũng lấy làm kinh
dị cho sự xuất hiện một Đấng Trời sanh Thánh Đế nầy, cứu lấy vận mệnh nước Văn
Lang.
Bẩm Quốc Vương Bệ Hạ, Thánh Gióng yêu cầu
cấp đủ lương thực nuôi một vạn quân trong vòng một tháng.
Một nghìn con ngựa chiến, một
nghìn chiếc cung loại tốt, năm vạn mũi tên, nữa tấn vàng, nói đến đây Quan
Thượng Thư dừng lại.
Hùng Huy Vương nghe xong thời cười nói,
những thứ yêu cầu đấy đối với nước Văn Lang ta thời chỉ là hạt cát, yêu cầu như
thế thời có gì là khó đâu. Muôn tâu Quốc Vương, nếu chúng ta không quyết tâm
thời khó mà được sự yêu cầu đó chỉ trong vòng nữa tháng.
Hùng Huy Vương hỏi sự yêu cầu đó là gì, ông
hãy nói mau cho ta nghe,
Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ: Thánh Gióng yêu cầu Bệ Hạ xuất mười tấn thép,
bảy tấn sắt, ba tấn đồng, với một nghìn thợ rèn giỏi, cấp tốc đến làng Đổng, chỉ
trong vòng nửa tháng phải có, không được chậm trể, thép, sắt, đồng, vàng, không
được thiếu một cân.
Hùng Huy Vương nghe sự yêu cầu nầy liền
ngớ người ra, vì vận nước như dầu sôi lửa bỏng, phải thực hiện cho bằng được,
bằng cho mời quan giữ kho thép đến hỏi còn được bao nhiêu, kho thép là kho báu
vật Quốc Gia, dùng để chế tạo ra các vũ khí sắc bén, không có thép nước nào sánh
lại được thép nước Văn Lang.
Quan giữ kho tâu, muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ,
trong kho chỉ còn tám tấm, Hùng Huy Vương
liền tức tốc cho thu hồi thép khắp đất nước, chọn một nghìn thợ rèn giỏi cùng
khắp đất nước, tất cả đều chuyển đến làng Đổng, trong vòng mười ngày, nếu chậm
trể chém đầu. Thế là các quan mỗi người
một việc, ra sức ngày đêm không nghĩ và tất cả đều hoàn thành sau mười ngày.
*
* *
HỒI THỨ BA BỐN
THAO LUYỆN BINH MÃ
Lúc
bấy giờ làng Gióng người ta như hội kẻ tới người lui tấp nập, GIÓNG giờ đây tuy mặt còn non trẻ,
nhưng cao lớn như người thanh niên vạm vỡ oai phong lẩm liệt, ra sức chỉ huy
một nghìn thợ rèn chế tạo rèn đúc áo giáp thép,
mão thép, áo giáp ngựa thép, roi thép, áo giáp sắc, áo giáp đồng, áo
giáp ngựa sắt, áo giáp ngựa đồng,
Nói
về nghìn thợ rèn ngày đêm tốc lực, rèn đúc mài dũa chế tạo ra bộ áo giáp người,
giáp ngựa, như vảy con tê tê, tiếng búa đập chan chát, dậy làng dậy xốm dậy núi
dậy
Non, tiếng mài dũa rào rào
nghe mà kinh mà khiếp.
Tiếng
rèn đúc âm vang mấy cõi.
Tiếng
rào rào mài dũa kinh thiên.
Ầm ầm dội đến quân Ân.
Làm cho khiếp vía hồn kinh hãi hùng.
Đây nói về khắp Bộ Vũ Ninh, cũng như các
Bộ các Châu, các Quận, các Huyện xa gần lân cận Bộ Vũ Ninh, nghe tin Thánh Gióng
xuất hiện chuẩn bị xuất quân đi đánh giặc Ân, thời khắp nơi, nhân tài kéo đến
lũ lượt xin gia nhập đội quân của Gióng.
Nói
về ở Hội Xá Gia Ninh, có nhiều đoàn trẻ chăn trâu chân bò, chúng thường chơi
nhau lập trận, rước cờ bông lau, đánh trống da ếch số đông lên đến cả trăm, gõ
thanh tre, chơi tập trận.
Nhìn
bọn trẻ chơi nhau tập trận.
Trống
dập dồn quân tiến quân lui.
Gõ
thanh tre bao vây quân dịch.
Tiếng
xung phong rền núi dậy non.
Cỡi trâu các bụi tung bay.
Cỡi bò tay phất cờ lau vù vù.
Reo hò trống dậy trống dồn.
Thanh tre rôm rả vang lừng đồng quê.
Tiếng la hét của bọn trẻ dậy
non dậy núi, quân Ân thua rồi, quân Ân thua rồi. Cùng lúc ấy nhiều đoàn trẻ
chăn trâu chăn bò, xa gần Hội Xá kéo đến số đông lên đến cả trăm, chúng hội nhau gia nhập đoàn quân của Gióng.
Thế là hơn mấy trăm trẻ chăn trâu chăn bò
kéo đến làng Gióng xin gia nhập đội quân của Gióng.
Gióng chấp nhận, và cho luyện tập binh mã,
mỗi lần
GIÓNG phất cờ điều khiển trận
pháp, tức thời đàng trẻ chăn trâu, chăn bò lớn lên một cấp, từ thiếu niên vụt
lớn thành thanh niên tráng sĩ, thịt bắp vai u sức mạnh vô địch,
Gióng lúc nầy tuy mặt vẩn còn
trẻ con, đã biến thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phong lẩm liệt. Gióng
cho người khiêng giáp người giáp ngựa, gươm đao giáo mác đến, trang bị cho đội
quân chăn trâu, chăn bò, đã biến thành đội quân dũng sĩ.
Đội quân dũng sĩ, trang bị ngựa mặt giáp
sắt, giáp đồng, người mặt giáp sắt, giáp
đồng, với thanh đại đao trong tay sáng ngời, các dũng sĩ đồng lên ngựa diễn
trận, dân chúng xem coi kinh hoàng khiếp vía, ánh đao tuôn ra lạnh cả người,
dân chúng la lên ngựa sắt, người sắt, khiếp quá, khiếp quá, đoàn quân ngựa sắt lao
tới lao lui nhanh như cuồng phong vũ bảo. Dân chúng hò reo đội quân bách chiến
bách thắng, đội quân bách chiến bách thắng.
Nói
về làng Môi, làng Mòi, những trai tráng khỏe mạnh cũng xin gia nhập đội quân Gióng,
trong đó có ba anh em nhà Ba Chạ, có sức khỏe lạ đời, một tay cầm lấy ba trăm
cân như cầm lấy một hòn đá nhỏ.
Nói về một số người thường câu cá trên các
dòng sông nghe tin GIÓNG chuẩn bị xuất quân đánh giặc Ân, liền kéo đến xin gia
nhập quân binh của Gióng.
Những
người thợ săn khắp nơi xa gần cũng thế, kéo đến xin gia nhập quân binh của
Gióng.
Đây nói về làng Y Na, có một người đàn bà
ăn ở phúc Đức, ba đời đều chửa bệnh cho dân, khắp nơi xa gần ai cũng mến phục,
người đàn ấy tên là Cao Thị.
Một
hôm có một cái cầu vồng năm sắc hiện ra trên bầu trời, và nhắm thẳng người đàn
bà sa xuống, bà Cao Thị liền thấy
trong mình khác lạ.
Từ đó bà mang thai, đến ngày
sanh nở bà sanh ra một bọc , sanh ra năm người con trai.
Năm
anh em khi đến 12 tuổi, bà Cao Thị qua
đời, nhưng nhờ gia tộc bà Cao Thị cũng
khá giả nên năm người con không lấy gì làm khổ nhọc, năm anh em cùng trong một
bọc mau lớn lạ đời nầy tài năng vô cùng, một người tên Kim, một người tên Mộc,
một người tên Thủy, một người tên Hỏa, một người tên Thổ.
Hùng
Huy Vương ra cáo cầu hiền khắp đất nước, năm anh em xé bản cầu hiền, tức thời
Quan dán bản cáo thị báo cho Vua Hùng biết.
Hùng Huy Vương cho người đến khảo sát tài
năng, thấy năm anh em trong một bọc sanh ra, quả là tài năng vô cùng
Võ nghệ cao cường thần thông
quảng đại, bằng dân tấu sớ lên Vua Hùng,
phong cho Quan tước, cũng như theo sự yêu cầu của năm anh em, nhà Cao Thị,
là gia nhập vào đội quân của Gióng.
Các
bô lão trong làng Y Na, lại tiến cử 35 người con trai khỏe mạnh tài giỏi nhất
làng, theo năm anh em Ngũ Tài
Cả làng mổ trâu, mổ bò, mổ dê,
mổ lợn, gà vịt tế lễ trời đất, khao
thưởng năm anh em Ngũ Tài, cùng 35 người con trai khỏe mạnh, lên đường đánh
giặc Ân xát nhập với quân Gióng nơi làng Đổng.
HỒI THỨ BA LĂM
HỘI TỤ TINH HOA
Khi
Gióng trở về làng Đổng tuyên bố đánh giặc Ân, những người tin Gióng theo Gióng
đầu tiên, là ba vị Kỳ nhân tên là ông Trấn, ông Trâu, ông Bạch Sam, ở núi Tiên,
Theo sự yêu cầu của Gióng, một nghìn thợ
rèn dốc sức ngày đêm không nghĩ hơn nửa tháng thì hoàn thành đến lúc nầy GIÓNG mình
cao hơn trượng cao lớn như người Khổng Lồ, Gióng hú lên một tiến làm chấn động
núi non rừng thẳm, thời từ xa xôi có tiếng ngựa hí đáp lại, trên không trung
liền xuất hiện một con ngựa Thần bay tới, to lớn gấp mười lần con ngựa thường,
to lớn hơn một con voi to, ngựa đáp chân xuống đất làm rung rinh nhà cửa, dân
làng kinh hãi khiếp sợ.
Hỡi
dân làng giờ xuất trận cũng gần đến dân làng hãy cho quân binh ăn thật no.
Riêng nấu cho ta đầy bảy nong cơm, cà
muối ba nong,
Sau có thơ rằng.
Bảy nong cơm, ba nong
cà.
Uống một hơi nước cạn đà khúc sông.
Nói về các thợ rèn chỉ rèn đúc lắp ráp
theo lời chỉ bảo của Gióng, chớ không động đậy gì nổi những đồ của Gióng dùng,
chỉ cần roi thép của Gióng cũng nặng hơn hai tấn dài to vót như một cây tre,
mấy chục thước, không có quân binh nào khiêng cho nổi.
GIÓNG bước đến nhiều mãnh áo giáp ngựa, mỗi
mảnh giáp nặng gần cả tấn, thế mà Gióng xách lên nhẹ như không, như xách con gà
con, ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía. GIÓNG ráp xong các mảnh giáp lên
mình ngựa xong, biến con ngựa Thần thành con ngựa thép sắt, tức thời hơi thép lành lạnh tuôn ra đến
khiếp người.
GIÓNG mặt giáp xong liền biến
thành con người thép sắt
Khổng Lồ, Gióng bước tới cây
roi thép dài to vót như cây tre, cuối người xuống cầm lên một cách nhẹ nhàng,
như cầm một cây roi tre chăn bò, với một sức mạnh chưa từng thấy bao giờ, Gióng
múa roi một cái tức thời cuồng phong nổi dậy ầm ầm, cát bay đá chạy, dân chúng
nhìn thấy sức mạnh Thần Kỳ của Gióng, có người sợ muốn xỉu, dân chúng nhìn Gióng
cỡi lên con ngựa thép, ánh thép sáng ngời ngời tay cầm roi thép, phóng lên yên
ngựa tức thời đất đai liền sụt lún xuống, con ngựa dẩm chân làm rung rinh nhà
cửa, dân chúng có người sợ đến muốn chết ngất, vì quá khiếp.
GIÓNG
vổ vào lưng ngựa, tức thời con ngựa phun ra lửa sấm sét nổi lên, Gióng phi ngựa
một vòng, ngựa phi tới đâu, thời thành ao tới đó, kình phong tuông ra ầm ầm làm
cho cây cối ngã đổ ai nấy đều kinh hồn bạc vía.
Gióng
phi ngựa trở về chỗ cũ, bọn trẻ thấy ngựa Gióng vẩn còn chỗ trống hở, liền lấy
bông lau dắc vào cho kín.
Gióng
chưa xuất quân hình như chờ đợi ai đó, khi ấy dân làng nghe tiếng hổ gầm, voi
hú, dậy trời như chờ Gióng xuất trận là lao theo.
Bổng
dân làng thấy mấy người nông dân làm ruộng, mấy người nông dân trồng tre, đến
gia nhập đạo quân,
GIÓNG nói tất cả đều đến đầy
đủ rồi, chuẩn bị xuất quân Gióng liền vỗ vào hông ngựa con ngựa hí lên rung
trời chuyển đất, mồm phun lửa rực đỏ cả bầu trời.
GIÓNG
chỉ roi về hướng Bắc thét lớn, tiến quân, tức thì đoàn quân hổn hợp, cuồn cuộn
lao về hướng Bắc.
Dân
chúng thấy quân Gióng đi nhanh như cơn bão vượt qua núi, không cần đường mòn,
vượt qua sông không cần thuyền bè. Sau có thơ rằng:
Quân Gióng là quân nhà Trời.
Vượt qua sông núi lạ đời như
không.
Quân binh cuồn cuộn bão dông
Tiến về phương Bắc quyết tâm diệt thù.
* *
*
HỒI THỨ BA SÁU
DIỆT THÙ
Lại nói về
Nguyên Minh, bị quân Ân phá trận ngũ
hành đánh bại, quân binh chết vô số kể, kéo tàn quân chạy về Vân Châu, tránh sự truy sát của quân Ân.
Cánh quân Cao Hải bị quân Hung Nô đánh bại cũng
chạy về Vân Châu, Nguyên Minh, Cao Hải gặp
nhau trong tình thế vô cùng bi đát, bại trận thê thảm, than thở mãi không thôi,
nhưng sau đó lấy lại khí thế cũng cố lại lực lượng, cố thủ Vân Châu quyết một
còn một mất với chúng,
Nguyên Minh viết thư báo cáo
tình hình quân địch khó mà chống cự cho lại trình lên Hùng Huy Vương, xin viện
binh, chờ cơ hội đánh trả, cũng như ngăn bước tiến quân Ân không cho tiếng vào
Trung Văn Lang.
Nội dung thư như sau:
Quân giặc nhiều vô số.
Tướng giặc lại tài cao.
Quân binh như ma quỹ.
Khó thắng biết là bao.
Quân binh đang cố thủ.
Địa phận tỉnh Vân Châu.
Viện binh như cứu hỏa.
Mới ngăn nổi giặc Ân.
Tiến vào Trung Văn Lang.
Xin Quốc Vương minh xét.
Nguyên Minh, cùng Cao Hải, đang bàn kế
sách ngăn chặng quân Ân tiến vào Trung Văn Lang, và cho người liên lạc với
Nguyên Dực, thời có quân binh vào báo,
Bẩm chủ soái quân Thánh Gióng sắp đến Vân Châu rồi, Nguyên Minh nói mau đến như thế sao, Cao Hải
nói
Nghe nói quân Gióng là quân
nhà Trời, không phải là quân Triều Đình, ta mau gia nhập vào đội quân của
Gióng, tiến đánh quân Ân.
Anh em cùng ra trận.
Hiếu trung nổi tiếng nhà.
Quyết một phen tử chiến.
Vì dân chết cũng là.
Diệt thù quân cướp nước.
Quyết
tử tiến xông pha.
Rồng Tiên niềm bất khuất.
Nối gót chí ông cha.
Cứu nước cứu non kể chi là.
Tình riêng gói lại chí xông pha.
Một mất một còn quân cướp nước.
Trải lòng trung hiếu diệt yêu ma.
Nguyên Minh, Cao Hải, thống lãnh gần mười
vạn quân đón quân Gióng đến gia nhập.
Nguyên Minh, Cao Hải nghe tiếng quân binh
duy chuyển ầm ầm, nghe cuồng phong ù ù thời lấy làm kinh hãi, loáng một cái
quân Gióng đã tới nơi.
Nguyên Minh, Cao Hải vô cùng kinh hãi, vì
thấy một đạo quân người sắt, ngựa sắt, đạo quân thiết giáp đi sau, hơi thép
tuôn ra lạnh cả người. Nguyên Minh, Cao Hải, tới lễ lạy Thánh Gióng, gia nhập
gần mười vạn quân vào quân Gióng tiến đánh giặc Hồ ở Kiến Giao Châu.
GIÓNG
vổ vào lưng ngựa chỉ roi về hướng Kiến Giao Châu tức thời ngựa Thần hí lên rung
trời chuyển đất, đoàn quân Gióng lao đi như cơn bão lốc, Nguyên Minh, Cao Hải
chỉ còn biết thúc năm nghìn kỵ binh lao theo đoàn quân của gióng mà thôi, còn
tất cả thời lẻo đẻo theo sau, đoàn quân loáng một cái là mất hút.
Đây
nói về Hồ Nghi Vương quyết lấy thành
Kiến Châu cho bằng được chiếm trọn Tây Bắc Văn Lang, với hơn 20 vạn quân, Hồ
Nghi Vương chỉ cần khôn khéo là chiếm được ngay, nhưng Châu Tiên, con của Quan Trung chính Châu Ân quá lợi hại, lại có một vị Tướng vô cùng tài đó là Cao Khang nên Hồ Nghi Vương chưa thể chiếm
thành ngay được, và rồi Hồ Nghi Vương cũng tìm ra kế để phá thành. Trận chiến
bắc đầu mở màng, Hồ Nghi Vương dùng độn tẩm dầu bắn vào thành, rồi bắn lửa vào
đốt cháy, hỏa công đánh trước, bộ binh leo tường đánh sau, xạ binh bắn yểm trợ,
còn một đạo quân khác mượng thế liên hoàn ròng rọc công phá cửa thành, Thành
Kiến Châu chỉ còn chờ chết.
Tiến reo hò quân Hồ dậy trời dậy đất, Hồ
Nghi Quân kêu gọi đầu hàng lần cuối, đầu hàng thời còn mạng sống, chống lại
thời chết không còn một mạng.
Châu Tiên quát con quỉ Hồ Ly kia, con cháu Tiên Rồng thà chết
quyết không chịu đầu hàng.
Hồ Nghi Vương trợn mắt quát! Hãy sang
bằng Kiến Châu cho ta, tức thời tiếng tù thổi lên rền trời rền đất, quân Hồ
chuẩn bị tấn công.
Thời bổng nghe đất trời rung chuyển, quân
Hồ bổng thấy người sắt, ngựa sắt bổng xuất hiện lao tới đánh rối xả tới tấp vào
quân Hồ, quân Hồ bị đánh trúng văng đi tứ phía cả người cả ngựa nát như tương.
Hồ Nghi Vương
kinh hồn bạc vía thấy ngựa sắt Khổng
Lồ lao tới phun lửa đốt quân Ân cháy đen, người sắt Khổng Lồ mỗi lần múa roi
thép sắt lên là mỗi lần quân Hồ toi mạng cả trăm lớp nát như tương lớp bay như
rác, Hổ, Voi, Sư Tử , lao tới xé
xác, cảnh tượng xảy ra khiếp vía kinh hồn. Hồ
Nghi Vương khiếp quá, ra lệnh cho quân binh bắn tên xối xả vào ngựa sắt,
người sắt, nhưng nào có ăn thua gì, ngựa
sắt người sắt cứ lao tới, đánh quân Hồ ngã rạp lớp lớp đạp nhầu quân Hồ nát như tương.
Hồ Nghi Vương
hãi hùng hóa phép bay lên không chạy
trốn, nhưng nào có kịp, Thánh Gióng chỉ roi lên không một cái, một tia hào quang
bắn lên Hồ Nghi Vương liền tan xương nát thịt, 20 vạn quân Hồ chỉ trong chốc
lác, tiêu tan
thây nằm la liệt. Sau có thơ
rằng:
Nghe động đất đùng đùng ập
tới.
Nghe cuồng phong bão tố đến nơi.
Ầm
ầm vó ngựa khiếp kinh.
Ầm ầm roi sắt rung rinh đất trời.
Quân hổn hợp Thánh Thần xuất thế.
Càn quét nhanh khủng khiếp kinh hồn.
Quân Hồ bị đánh tơi bời.
Lớp thời nát thịt, lớp thời cháy đen.
Lớp thời bị cọp nuốt ăn.
Kinh hồn bạc vía hết phương sống còn.
Lại nói về,
Quan Trung Chính, Châu An, Châu Tiên,
Cao Khang, quyết tử chiến với
quân Hồ cho đến phút cuối, bổng nhìn thấy xa xa ở phương Nam xuất hiện một đạo
quân, không biết là quân địch hay quân ta, chỉ loáng một cái đoàn quân tốc hành
đã đến nơi. Châu Tiên la lớn quân người sắt, Cao Khang, Châu An, thấy đoàn quân
người sắt lao vào 20 vạn quân Hồ như vào chỗ không người, giống như hàng nghìn cái
chổi sằm quét rác, quân Hồ bị quét bay lên tứ tung, trông thấy mà kinh hồn bạc
vía, nhất là người sắt Khổng Lồ, ngựa sắt Khổng Lồ, tên, lao, giáo, kiếm, lao tới
như mưa, nhưng người ngựa Khổng Lồ không hề hấn gì cả, ngựa phun lửa dữ đốt
quân Hồ cháy đen cháy thui, cứ mỗi lần người sắt Khổng Lồ vung roi là cả trăm
người tan xác. Châu Tiên, đứng trên
thành la lớn Thánh Gióng Thánh Gióng,
kìa cờ đề Thánh Gióng, quân nhà Trời đã xuất hiện,
Quân Trời kinh khiếp làm sao.
Tướng Trời xuống thế cứu dân sống còn.
Cứu non cứu nước trường tồn.
Đánh tan yêu quỹ hết còn xâm lăng.
Kinh hồn bạc vía từ đây.
Văn Lang có chủ giặc bây đừng hòng.
Xâm lăng không có ngày về.
Thây phơi chật đất ê hề thây phơi.
Quân Hồ bị đánh tả tơi.
Làm phân cho đất ôi thôi còn gì.
Đây là bài học nhớ đời.
Cho quân xâm lược nhớ thời nhớ ghi.
Châu Tiên nhìn thấy cờ chủ soái Nguyên
Minh, nói Cha nhìn có quân chủ lực Văn Lang nữa kìa.
Thánh Gióng nói tiếng vang như sấm, mau
mở cổng thành đem quân tri sát quân Hồ.
Nói xong Thánh Gióng chỉ roi về Ninh Châu
tiến, thế là đoàn quân Gióng như cơn bão nổi lên ầm ầm lao đi, loáng cái mất
dạng, Châu An nhìn theo khiếp vía quân Trời có khác.
*
* *
HỒI
THỨ BA BẢY
TIÊU DIỆT QUÂN ÂN
Đây nói về Nguyên Dực thua trận kéo tàn quân chạy về
thành Ninh Châu, cố thủ, quân
Ân kéo đến bao vây, nhưng không tấn công liền, chờ cho quân binh trong thành
Ninh Châu kiệt sức vì đói mới ra tấn công.
Than ôi non nước nạn luôn luôn.
Cũng bỡi chúng dân lạc Cội Nguồn.
Âu bỡi số Trời nên đành thế.
Đông tàn xuân đến nạn qua truôn.
Còn lòng trung hiếu còn non nước.
Đựng dậy hồn thiên, dậy anh linh.
Chờ cơ, chờ vận, chờ trời sáng.
Rồng Tiên phất phới, rạng anh minh.
Độc lập tự do tung đôi cánh.
Yên bình hạnh phúc trải xuân Thiên.
Đây nói về Nguyên Dực, bị Sát Sát quân Ân đánh bại rút tàn quân chạy về thành
Ninh Châu, đóng cổng cố thủ trong thành, không bao lâu thời quân Ân kéo đến bao
vây, có trên 25 vạn quân .
Nguyên
Dực, Dương Điền, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân, cùng nhiều Tướng Lĩnh khác nữa ở trên thành nhìn thấy
quân Ân đông như vậy khó mà đánh cho lại.
Hơn nữa Sát Sát thần thông pháp thuật vô biên, thành Ninh Châu quân binh
chỉ hơn sáu vạn, nhưng nếu bị bao vây hơn nửa tháng sẽ dẫn đến chết đói, quân
Ân không đánh cũng thua. Quân Ân bao vây hơn mười này rồi, chỉ cần thêm năm
ngày nữa sẽ dẫn đến quân binh kiệt sức vì đói.
Nguyên Dực, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương,
lấy làm lo lắng vô cùng. Bạch Tướng Quân nói, trước sau gì cũng chết, thay gì
lúc còn đang no, đang đêm mở cổng thành ra quyết chiến với chúng một trận chết
cũng vui sướng.
Dương Điền nói Bạch Tướng Quân nói phải
lắm, chết đói sao cho bằng đánh với một trận chết no cũng vui.
Nguyên Dực nghe cũng có lý, nói thôi thì
tận trung Báo Quốc vậy, được lệnh mở cổng thành tấn công quân Ân, các Tướng bàn
bạc sôi nổi và thống nhất, một giờ đêm nay là mở thành tấn công vào quân Ân tận
trung Báo Quốc, coi như chúng ta ăn bửa cơm cuối cùng, bằng cho mổ bò mổ lợn,
gà vịt khao đải quân binh, bửa ăn cuối cùng từ giả trần gian.
Một trận chiến lẫy lừng sông núi.
Khí hùng anh có chết cũng vui.
Tiên Rồng nòi giống uy linh.
Sợ gì quân giặc tiến lên diệt
thù.
Nhìn dân chúng giặc dày giặc xéo.
Cảnh ngựa trâu giặc chém giặc đâm.
Làm cho máu chảy non sông.
Quê hương binh lửa núi non hận
thù.
Hãy
tiến lên chiến sĩ đồng bào.
Đánh cho tan tác quân thù tác
tan.
Nhìn trời về chiều ánh nắng đã ốm vàng
hồng, không bao lâu nữa mặt Trời sẽ lặng về non Tây, các Tướng Lĩnh thấy tâm
hồn khoan khoái nhẹ nhổm không còn nặng nề như mấy bửa trước đây. Bổng Bạch Tướng Quân la lên xem
kìa xem kìa chuyện gì thế quân Ân kéo binh đến nữa chăng, khói bụi mịt mù ở tận
xa xa, loáng một cái đoàn quân đã lao tới gần quân Ân, tiếp theo đó là một trận
chiến kinh hồn, quân Ân bị đánh bay lên như hốt đá mà ném bay lên tứ hướng nhà
Trời, quân Ân kinh hoàng khiếp thi nhau chạy toán loạn.
Ngựa sắt dồn chân chuyển đất trời
Đạp nhầu quân giặc nát tả tơi.
Ầm ầm roi sắt rền sông núi.
Muôn vạn giặc Ân mạng tơi bời.
Kinh hồn bạc vía quân cướp nước.
Thịt
xương tung tóe xác pháo rơi.
Cuồng phong gào thét roi vun vút.
Quét
sạch xâm lăng giặc đi đời.
Các
Tướng trên thành la lớn người sắt, ngựa sắt, kìa
người Khổng Lồ, tay múa roi
lớp lớp quân Ân tan xương nát thịt bỏ mạng, ngựa sắt phun lửa đỏ rực bầu trời,
Lạc Đại Vương la lớn cờ Thánh Gióng, quân
binh nhà Trời, Nguyên Dực cũng la lớn,
kìa quân binh chủ lực Văn Lang cờ chủ soái Nguyên Minh phất phới, Nguyên Dực
như đứng tim nhìn sức mạnh của quân Gióng đánh quân Ân như đánh loài chuột.
Đây nói về Sát Sát, đang hừng hực khí thế chiến thắng, thời nghe tiếng ầm ầm
từ xa vọng lại, loáng một cái nghe quân Ân gào thét sợ hãi chạy toán loạn, Sát
Sát la lớn chuyện gì thế chuyện gì thế.
Nói về Hồ Man Quân, Hồ Mị Hoa, nhìn thấy người sắt từ hướng Tây lao tới
xơi sạch quân Hồ. Hồ Mị Hoa hóa phép dông tố nổi lên ầm ầm đánh vào quân người
sắt. Không ngờ quân người sắt chẳng hề hấn gì, lao nhanh tới chém sạch quân Hồ,
Hồ Mị Hoa sợ quá cỡi ngựa Thần phi lên không trốn chạy, nhưng không còn kịp nữa
năm con ngựa sắt bay lên không bao vây, đồng loạt tấn công cả con ngựa Thần
cùng Hồ Mị Hoa bị chém đứt ra nhiều mảnh, quân Ân quân Hồ, nhìn thấy cảnh ấy
chỉ còn biết dẩm đạp lên nhau bỏ chạy, năm con ngựa sắt bay lên không giết chết
Hồ Mị Hoa, chính là năm anh em Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ.
Cùng lúc ấy Sát Sát thấy người sắt Khổng Lồ đánh quân Ân lớp lớp tơi tả, liền
niệm chú phóng kiếm Thần lao tới giết chết người sắt Khổng Lồ, Gióng không hề
sợ hãi chút nào kiếm Thần lao tới Gióng đưa roi đánh vào kiếm Thần một cái tức
thời một tiếng nổ long trời, kiếm Thần nát ra từng mảnh vụn, Sát Sát sợ quá la
lớn bắn chết người sắt Khổng Lồ đó cho ta, thế là hàng nghìn mũi tên bắn vào
người sắt Khổng Lồ, nhưng nào có ăn thua gì, Gióng lao đến đâu quân Ân lớp lớp
bỏ mạng đến đó.
Sát Sát hóa phép liên miên, nào yêu tinh
quỹ dữ hiện ra, cũng không làm gì được Gióng,
bị Gióng múa roi đánh yêu tinh quỉ dữ khiếp hồn, Sát Sát hóa cuồng phong ầm ầm cũng
không làm gì được Gióng.
Sát Sát sợ quá phi ngựa lên không trốn chạy, không ngờ con
ngựa sắt Khổng Lồ bay theo, Gióng đánh cho một roi cả người lẫn ngựa nát như tương.
Nguyên Dực cùng các Tướng Lĩnh trên thành
Ninh Châu há hốc mồm mà nhìn, cứ tưởng như là một giất chiêm bao. Chừng nghe
nói hãy mở cổng thành truy sát quân Ân chạy trốn, và cho người đem đồ ăn thức uống
dâng lên cho đoàn quân của Gióng, người lên tiếng đó chính là Nguyên Minh em
của Nguyên Dực.
Nguyên
Dực như tỉnh giất mơ, liền mở cổng thành cho quân đuổi theo truy sát quân Ân
đang chạy trốn tứ hướng,
25 vạn quân Ân giờ đây chỉ là
những đống thịt, những cái xác không hồn, la liệt chồng chất lên nhau, cuộc
chiến kết thúc thần tốc như thế, không ai dám nghĩ tới, nói gì tận mắt chứng
kiến.
* *
*
HỒI
THỨ BA TÁM
QUÉT SẠCH QUÂN ÂN
Sử đời chép lại để coi.
Xâm lược rốt cuộc chẳng
qua lũ hề.
Trò cười muôn ức vạn đời.
Ra gì một lũ ngông cuồng xâm
lăng.
Nói
về quân Gióng sau khi quét sạch 25 vạn quân Ân, thời được Nguyên Dực, Dương Điền, Hầu Thái Công, Lạc Đại Vương, Bạch Tướng Quân, đón
rướt tất cả vào thành vì trời đã tối, các Quan Tướng đều đến lạy Gióng,
Lạc Đại Vương, cho
người dâng lên đồ ăn thức uống cho đoàn quân của Gióng, không ngờ đoàn quân của
Gióng ăn mạnh quá, nốt sạch khẩu phần của hơn sáu vạn quân, chuẩn bị cho bửa
cơm tối, bửa cơm cuối cùng cho trận chiến một giờ đêm.
Nhất là Gióng ăn liền bảy nong cơm, ba nong
cà muối,
Làm khiếp đảm những người
chứng kiến.
Quân Gióng ăn no nê rồi đánh một giất
ngủ.
Ông mặt trời đã thức dậy, ngày cuối cùng
tiêu diệt giặc Ân, Tất cả quân binh thành Ninh Châu suốt đêm không ngủ, vì
chuẩn bị đồ ăn thứ uống cho đoàn quân của Gióng ăn sáng trước khi lên đường
đánh giặc. Quân dân thành Ninh Châu, lại phải chứng kiến quân Gióng ăn uống
khủng khiếp, nhất là Gióng nuốt sạch mười nong cơm, năm nong cà. Nguyên Dực giờ
đây đã gia nhập, vào đoàn quân của Gióng những kỵ binh giỏi nhất đi theo Gióng
quét sạch quân thù xâm lược, còn tất cả binh lính đều ở lại thành Ninh Châu.
Quân Gióng ăn uống no nê, chờ lệnh Gióng
xuất phát, Gióng cầm roi, leo lên lưng ngựa, roi Gióng vót nhọn dài mấy mươi
thước to dài như cây tre lồng ngà, nặng hơn hai tấn, Gióng chỉ roi về hướng
Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ, hét lớn tiến quân, tức thời con ngựa Gióng hí lên
vang động đất trời, mồm phun ra lửa dữ, dậm chân ầm ầm lao đi, quân Gióng lao
theo ầm ầm như cơn bão, loáng cái đã mất dạng,
quân binh Ninh Châu nhìn theo khiếp vía.
Đây
nói về quân Ân, quân Hung Nô, ngày đêm ráo riết, đánh chiếm các Châu Quận Huyện,
hầu như gần nuốt sạch Bắc Văn Lang.
Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ sắp mất đến
nơi quân Ân bao vây lớp lớp trùng trùng, Hùng
Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên, biết thế nào quân Ân cũng chiếm được Kinh Đô,
nhưng thà chết không chịu đầu hàng, cố thủ tử chiến.
Nhất là Hùng Lang Công, vô cùng căm giận
Giặc Ân, xâm lược cướp nước, còn giết chết hai người con là, Hùng Tướng, và
Hùng Điền, nên ra lệnh cố thủ thành dù sắp chết đói đến nơi, dân chúng cũng như
quân binh đã lai rai chết đói, quân Ân hiểu rõ thời cơ đã chín mùi chỉ cần ra
tay
là chiếm được được Kinh Đô, và
ngày giờ đã quyết định, là tấn công vào Kinh Đô khi lúc mặt trời lên, với hơn
ba mươi vạn quân Ân bao vây Kinh Đô đông như kiến, đao kiếm ngùn ngụt, ngựa hí
vang trời, quân reo dậy đất.
Hùng Lang
Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên, ở trên cung thành nhìn quê hương non nước như nhìn lần
cuối, tay nắm chặt thanh đao như nói thầm rằng hãy quyết tử với chúng.
Nước Văn Lang lửa thù soi giếng hận.
Lũ quân thù, lũ tán tận lương tâm.
Lũ ngoại xâm, nầy hỡi lũ ngoại xâm.
Mi gieo rét, bao ngục tù chết chóc.
Giờ quyết tử, ta sẳn sàng chiến đấu.
Nguyện theo về, với thế giới Cha Ông.
Thân xác nầy, trả lại với non
sông.
Giờ quyết tử, quyết chiến quyết
xông.
Nói về Hùng Lang Công, Lạc Tướng Cao
Giang, Hầu Tướng Việt Yên, nhìn mặt trời lần cuối trước khi vĩnh biệt cõi trần.
Tiếng
còi khai trận, trên đài quan sát, Ân Mao
Vương phất cờ lệnh tấn công, tức
thời nghìn nghìn thang dây lao tới bắt lên thành, có đội quân xạ tiển yểm trợ
bắn lên thành như mưa.
Cùng lúc ấy từ phía Tây một cơn bão lốc cuồn
cuộn ập tới, tiếng vó ngựa ầm ầm vang rền trời đất, thoáng chốc đội quân người
sắt xuất hiện lao vào hơn 30 vạn quân Ân xơi ráo riết, quân Ân bị đánh văng bay
lên trời như giấy, kẻ bể đầu, người nát như tương, với chiếc roi sắc dài mấy
mươi thước, Gióng vung lên vù vù quân Ân bỏ mạng lớp lớp. Nghịch Phong kinh hoàng khiếp vía cỡi ngựa bay lên không phóng đao
Thần tới người sắt Khổng Lồ, chỉ nghe nổ ầm ầm đao Thần nát vụng, Nghịch Phong
niệm chú hóa phép yêu tinh quỉ dữ hiện ra lao vào người sắt, ngựa Thần
Phun lửa đốt sạch, bổng ngựa
sắt bay lên không roi sắt đánh tới Nghịch Phong, Nghịch Phong múa kiếm lên đở,
nào ngờ một tiếng bộp dữ dội, Nghịch Phong cả người lẩn ngựa nát như tương,
Ân Mao Vương
nhìn thấy kinh hồn bạc vía, Ân Mao Vương
chưa kịp chạy trốn, thời Gióng bay đến đánh một roi quan sát đài cao bảy tần,
chỉ nghe ầm một tiếng kinh thiên động địa quan sát đài nát vụng, Ân Mao Vương
nát như tương. Roi sắt cũng gãy làm ba
khúc.
Gióng dắc khúc roi còn lại
vào lưng, phi ngựa tới bờ tre nhổ lấy tre đánh vào quân Ân tơi tả chết la chết
liệt, cây tre nầy hư nát, Gióng lại nhổ cây tre khác, cứ thế hết cây tre nầy
đến cây tre khác, quân Ân không còn sống sót để mà trở về quê hương, xác quân
Ân la liệt thành gò thành đống. Không ai là không khủng khiếp cho trận chiến
diệt quân Ân thần tốc nầy. Về sau có thơ
rằng:
Rầm rầm dậy đất dậy trời.
Cuồng
phong bão táp ầm ầm kinh thiên.
Ngựa Gióng phun lửa liên miên.
Roi Gióng cuồn cuộn đảo điên đất trời.
Quân Ân lớp lớp tơi bời.
Cháy đen, nát thịt, bể đầu, tan thây.
Đùng đùng ngựa dẩm quân Ân.
Chôn vùi tan xác còn chi cuộc đời.
Quân Ân hồn vía rụng rời.
Xác văng tứ phía rụng đầu sứt chân.
Ào ào muôn trận cuồng phong.
Đường roi bão táp cuốn phen quân thù.
Đường roi cuồn cuộn ù ù.
Ầm ầm nện xuống nát nhừ quân Ân.
Quân Ân khiếp vía hồn kinh.
Ném gươm ném giáo chui mình trốn chui.
Lũ chuột trốn chạy khắp nơi.
Chạy đâu cho thoát ôi thôi còn gì.
Đáng đời lũ giặc đáng đời.
Ngông cuồng xâm lược để rồi mạng toi.
Hùng
Lang Công, Lạc Tướng Cao Giang, Hầu Tướng Việt Yên, cùng quân binh trên thành
ngơ ngác, quên cả chiến đấu chừng thấy quân Ân từ trên thang dây nhảy xuống đất
lớp chết lớp gảy tay gảy cẳng, thời mới giật mình, thời quân Gióng đã biến mất
lao về hướng Đông thẳng đến thành Xích Linh, Hùng Lang Công nói Thánh Gióng
người thiếu niên Khổng Lồ, Quốc Tổ Thiêng Long Vương Sùng Lãm, đã hiện về cứu
nước Xích khỏi rơi vào tay giặc.
Ai đời đánh giặc lạ đời.
Dùng tre thay giáo tuyệt vời khó tin.
Bờ tre khắp chốn khắp nơi.
Để cho Thánh Gióng nhổ lên diệt thù.
Tre thành roi Thánh nhà Trời.
Đánh cho quân giặc rụng rời khiếp kinh.
Tre thành gươm giáo uy linh.
Đánh cho quân giặc hãi kinh khiếp hồn.
Tre là biểu tượng anh hùng.
Giặc mà nhìn thấy hãi hùng hoảng kinh.
( Quốc Tổ Thiên Long Vương
Sùng Lãm, là Quốc Tổ khai sanh ra nước Xích Quỷ, thời đại Kinh Dương Vương).
* * *
HỒI THỨ BA CHÍN
QUÉT SẠCH HUNG NÔ
Đây nói về thành Xích Linh quân Hung Nô
chưa làm gì nổi, chỉ ở thế bao vây mà thôi, chờ cho quân Xích Linh đói chết tự
đầu hàng, quân Hung Nô sau những lần bại trận chỉ còn không đầy 10 vạn, nay đã
hồi phục trở lại lên đến 15 vạn, với tình cảnh nầy quân Hung Nô như con hổ rình
mồi. Chờ cho con mồi đói lã, lao tới ăn thịt không cần tốn công mệt sức.
Hung Nô Vương, cùng hai con là Hung Quân
Liệt, Hung Đa Di, lấy làm đắc ý, vì con mồi đã ở trong tầm tay.
Ba cha con Hung Nô, đang hảm
hiếp những cô gái đẹp Bắc Văn Lang, chúng hảm hiếp hết cô nầy đến cô khác, rồi
chúng quăng ra cho binh lính hảm hiếp.
Nhìn thấy cảnh ấy không ai là
không sôi gan, cho quân tàn bạo cướp nước. Chúng đang hả hê hảm hiếp những cô
gái trẻ, bổng nghe cuồng phong kéo tới ầm ầm, quân Hung Nô giật mình khiếp sợ,
không hiểu là có chuyện gì.
Đây nói về Lạc Kim Tiên, trong lúc chợp mắt thời thấy Sư Phụ hiện về nói, khi
mặt trời lên sẽ có Thánh Gióng xuất hiện, đánh tan quân Hung Nô, giải thoát
khiếp nạn cho Bắc Văn Lang.
Lạc Kim Tiên
giật mình tỉnh giất không thấy Sư Phụ
đâu cả, khi ấy trời cũng sắp hừng sáng.
Lạc Kim Tiên liền nói với cha, là Lạc Hầu
Vương, cũng như anh trai là Lạc Hồng Hầu, những gì Sư Phụ đã hiện về nói cho
biết là quân Hung Nô sắp bị đánh tan, khi Thánh Gióng xuất hiện, lúc mặt trời
lên.
Tin nầy được lan truyền nhanh chóng khắp
trong thành Xích Linh, binh lính cũng như dân chúng kéo lên tường thành chờ đợi
Kỳ Tích xuất hiện.
Mặt trời đã lên cao, nhưng sao chưa thấy
Kỳ Tích xuất hiện, niềm tin đã bắt đầu lung lay.
Bổng Lạc Kim Tiên la lớn, khói bụi từ hướng
Tây đã xuất hiện, Lạc Hầu Vương la lớn tới rồi, đoàn quân Gióng đã xuất hiện, quân
dân trên thành thấy Gióng cầm cây tre múa vù vù đánh vào quân Hung Nô như cơn
bão lốc quân Hung Nô bị đánh văng tứ tung lên không như giấy, quân Gióng xơi
quân Hung Nô như mèo xơi bầy chuột, chúng bị đánh văng đi tứ tung, bể đầu, gãy
chân, gãy tay, người thì nát như tương, người thì bẹp lếp, chết la chết liệt
thành gò thành đống, Kim Tiên thấy Thánh Gióng như người Khổng Lồ nhưng mặt còn
trẻ con, nhổ lấy tre đánh giặc không khỏi phì cười, đúng là trò trẻ con có một
không hai trên trần thế, chỉ trong phút chốc quân Hung chết sạch, Hung Nô Vương
cùng hai con bỏ mạng, Gióng đánh tan quân xâm lược Gióng liền phi ngựa về hướng
Nam mất hút, đoàn quân của Gióng cũng
mất hút theo, Nguyên Dực, Nguyên Minh bỏ lại quân binh Tướng Lĩnh theo chân Gióng,
chỉ còn lại quân Triều Đình, và những quân binh theo Gióng ra trận.
Anh tài hào kiệt anh hùng.
Cứu dân cứu nước diệt nầy ngoại xâm.
Giữ gìn độc lập non sông.
Để cho non nước bình yên thái bình.
Gương lành để lại cho đời.
Uy danh muôn kiếp sáng ngời anh linh.
Hiếu trung sách sử chép ghi.
Công lao cứu nước sáng soi đời đời.
Lời còn nhớ mãi anh hào cứu dân.
Lạc
Hầu Vương, Lạc Hồng Hầu, Lạc Kim Tiên, Đinh Hoàng, Nguyên Thông, nhận ra Cao Hải.
Nhất là Lạc Kim Tiên vừa nhìn thấy Cao
Hải thời lòng vui mừng không sao kể xiết, như vừa nuốt phải một lạng sâm
vào bụng, ra lịnh cho người mở cổng thành phi ngựa ra gặp Cao Hải.
Nhìn thấy xuân về sau
gió đông.
Nghìn hoa đua nở đợi bướm ong.
Xao xuyến tình duyên lòng con gái.
Bến đợi sông chờ, khách qua sông.
Đôi môi
vừa hé hôn làn gió.
Cháy bổng hồn xuân ấm tình nồng.
Đa cảm phải đành ôm nỗi nhớ.
Bóng dáng người tình mãi đợi trông.
Lòng em như vạn mùa xuân.
Trời thu trong vắt, biển đông dậy tình.
Em nghe ngọt lịm tâm hồn.
Đa
tình đầy ắp biển trời nhớ thương.
Cao Hải, gặp lại Kim
Tiên cũng không kìm nỗi lòng xúc động, tưởng như là sẽ không còn gặp lại
nhau nữa, Cao Hải giới thiệu một số Tướng Lĩnh cho Lạc Kim Tiên, Lạc Kim Tiên
thi lễ chào hỏi xong, thời cũng vừa lúc. Lạc
Hầu Vương, Lạc Hồng Hầu, Đinh Hoàng, Nguyên Thông, vừa tới thi lễ đón rướt
các Tướng Lĩnh vào thành, thiết đãi ăn mừng chiến thắng cũng như bàn luôn việc
Quốc Sự, chính đốn lại trật tự an ninh Bắc Văn Lang, ra lệnh cho quân binh truy
nả quân giặc còn đang chạy trốn, cũng như ra cáo thị cho dân chúng, phải tuân
theo pháp lệnh của nhà nước Văn Lang, nếu ai không tuân theo sẽ bị xử trảm.
Các Quan Tướng đang bàn việc Quốc Sự thời
có quân vào báo, có thư của Hùng Lang Công
nơi Kinh Đô Xích Quỷ gởi tới. Nội dung thư như sau: các Quan, các Tướng, các
bộ, các Châu, các Quận, các Huyện, cũng như các Quan Tướng Triều Đình về Kinh Đô
hợp gấp, bàn nhiều việc trọng đại.
Theo công văn Bệ Hạ Hùng Huy Vương.
Người viết thư Hùng Lang Công.
Thế là các Quan Tướng tức tốc lên đường
đến Kinh Đô Nam Kinh Xích Quỷ để dự hộp.
Đây
nói về Nam Ninh Xích Quỷ, Kinh Đô Bắc Văn Lang các Quan Tướng ra vào tấp nập, nhanh
chóng đi vào cuộc hộp chấn chỉnh lại Bắc Văn Lang đã trải qua một thời gian dài
đi vào hổn loạn, nhiều Bộ Lạc nổi lên đòi tự trị khắp nơi. Xưng Vua xưng Chúa,
theo trào lưu phương Bắc, Nhà Thương, Nhà Chu.
Với chính sách khoang hồng của triều chính
Văn Lang,
Hùng Huy Vương, Ân xá tất cả
những tội lỗi, của những Bộ tộc trong Bách Việt Văn Lang, có sự lầm đường lạc
hướng, nổi lên đòi tự trị, gây ra bao cảnh chết chóc, nồi da nấu thịt, làm cho
dất nước suy vong.
Nếu
bộ tộc nào có ý phản loạn, học đòi theo phương Bắc nổi lên xưng Vua, xưng Chúa,
thời giết chết không tha.
Nhờ chính sách khoang hồng ân
xá, không làm tổn hại những Bộ Tộc gây ra tội lỗi trước đây, mà còn có chính
sách nâng đở, nên được lòng dân, nước Văn Lang vì thế bình yên thêm mấy trăm
năm nữa, thái bình an lạc.
( Điều đáng tiết ở đây, nước
Văn Lang thời bấy giờ văn hóa Cội Nguồn không còn nên không lấy gì để dạy dân,
mà chỉ dạy dân theo thể chế phong kiến, theo xu thế phương Bắc, hết họa nầy nối
liền theo họa khác, do phương Bắc thao túng làm hại ).
*
* *
HỒI
THỨ BỐN MƯƠI
PHƯƠNG BẮC
Đây nói về phương Bắc, thời
Chu Mục Vương, nhà Chu . Tạo Thụ, được Mục
Vương yêu mến, Vua tôi thường đi tuần thú cảnh Tây, tìm vui chuyện lạ.
Ở vào
thời ấy đã xuất hiện nhiều nước nhỏ nổi lên chống lại Mục Vương, không chịu quy
phục Mục Vương, trong số các nước nhỏ nổi lên chống trả lại Mục Vương, có Vua
Từ Yển, Từ Yển giao tranh quyết liệt với Chu Mục Vương, cuối cùng Chu Mục Vương
đánh bại, diệt Vua Từ Yển, chiếm lấy đất
đai phong cho Tạo Thụ.
Tạo
Thụ ở thời Mục Vương thế lực rất lớn, nên Tạo Thụ nói gì Mục Vương cũng nghe.
Tạo Thụ là con cháu của Ác
Lai, Ác Lai thờ Vua Trụ. Con cháu Vua Trụ chính là Ân Mao Vương, vì thế Tạo Thụ
luôn luôn tìm cách giúp đở Ân Mao Vương, Ân Mao Vương phần lớn nhờ thế lực của
Tạo Thụ, dựng nên cơ nghiệp Man Vu vô cùng hùng mạnh, lại kết hợp với quân Hồ,
quân Hung Nô, nên càng hùng mạnh thêm nữa.
Chu Mục Vương lấy làm lo lắng, hỏi Tạo Thụ,
tình hình phương Bắc nhà Chu ta, các nước đã
nổi lên tranh giành quyền bá thôn tính lẩn nhau, có nước chống lại cả ta, liệu
Ân Mao Vương có chống trảlại ta không?
Tạo Thụ nói, việc đó để Hạ
Thần Thiên Tử Bệ Hạ khỏi lo,
Chu Mục Vương qua đời, Di
Vương nhà Chu lên thay thế cũng giống như Chu Mục Vương, vô cùng lo sợ thế lực Ân
Mao Vương, vì lúc bấy giờ thế lực Tam Vương hùng mạnh vô cùng .
Chừng Chu Di Vương nghe Ân
Mao Vương, cùng Hồ Nghi Vương, Hung Nô Vương, bộ ba nầy xâm lược đánh chiếm Bắc
Văn Lang, Chu Mục Vương lấy làm mừng, vì Ân Mao Vương không chống trả lại nhà
Chu, mà đánh chiếm Bắc Văn Lang.
Di Vương nói đúng Tổ Tông nào
sanh con cháu nấy, Vua trụ Ân Thọ Vương, quyết tâm chiếm cho được nước Văn
Lang, không ngờ nước Văn Lang đánh bại thê thảm, là vì nghe nói hồi đó, nước
Văn Lang có bảy Bảo Kiếm Trấn Quốc sau khi đánh thắng Ân Trụ Vương, phương Bắc
chúng ta, thời bảy thanh Kiếm Trấn Quốc đó cũng không còn. Sức mạnh của nước
Văn Lang hiện nay đang đà suy yếu, bao đời Đế Vương phương Bắc cũng muốn chiếm
lấy nước Văn Lang thống nhất Nam Bắc phương Đông, trở thành vĩ nhân đệ nhất
thiên hạ.
Nước Văn Lang là một đất nước giàu có đất
đai trù phú, nội chỉ cần nền văn minh lúa nước, cũng đã đệ nhất địa cầu rồi,
huống chi là nền văn minh sắt, thép, đồng, thau, nhất là nền văn minh luyện
thép thời không có một đất nước nào bằng .
Nếu quả thật Ân Mao Vương chỉ cần chiếm lấy
được Bắc Văn Lang, chia phương Đông thiên hạ làm ba, Bắc Triều, Nam Triều, và Trung Nguyên.
Nhưng điều nầy không phải dễ
vì nước Văn Lang tiềm ẩn những điều không thể lường trước được.
Tạo Thụ, Triệu Thụ cùng Chu
Mục Vương, đang bàn sôi nổi về Ân Mao Vương sắp chiếm được Bắc Văn Lang, thời
có Quan nhất phẩm tên là Triệu Lục, vẻ mặt có vẻ kinh hãi báo cáo với Chu Di
Vương rằng.
Quân Ân, quân Hồ, quân Hung
Nô, đã bị quân Văn Lang đánh bại xóa sổ, Tạo Thụ, Triệu Thụ cũng như Di Vương
nghe xong vô cùng kinh hãi, nước Văn Lang mạnh như thế sao? Người nào mà tài
năng như thế. Triệu Lục nói Thánh Gióng,
đoàn quân người sắt, Triệu Lục liền kể lại tất cả nào là Thánh Gióng cỡi
ngựa sắt, chỉ cần múa roi một cái là cả hàng nghìn quân binh tan xương nát
thịt, Thánh Gióng đánh gãy roi sắt, Gióng liền phi ngựa đến bụi tre nhổ cả gốc
lẫn rễ lên đánh quân Ân chết la chết liệt, Gióng đánh gãy cây tre nầy lại nhổ
cây tre khác.
Quân Ân lớp lớp đi đời.
Xác phơi chật đất máu thành vũng ao.
Đứa thời gãy nát tứ chi.
Đứa thời sứt mũi tan thây bể đầu.
Đứa thời bẹp lép nát nhừ.
Ôi thôi khủng khiếp hãi hùng ôi thôi/
Những người theo Gióng đánh
giặc nghe đâu như là binh Tướng nhà Trời, chưa đầy ba ngày toàn bộ quân Ân,
quân Hồ, quân Hung Nô, coi như đã bị xóa sổ, thông tin chính xác nầy, là do ba nước
biên giới với Bắc Văn Lang, Tề, Ngô, Sở,
kể lại trong nỗi kinh hoàng.
Chu Di Vương cùng các Quan
Tướng nghe Thánh Gióng xuất hiện quét sạch giặc xâm lăng chỉ trong vòng có ba
ngày thời kinh hồn bạc vía, không còn dám nghĩ đến mông xâm lăng nước Văn Lang
nữa.
Cũng từ đây phương Bắc nhà Chu cũng dần dần
đi vào đại loạn, nhất là sau thời Di Vương, đến Lệ Vương, Chu Lệ Vương là vị Vua
hôn quân mê muội bạo ngược vô cùng
làm cho triều chính nội loạn
bè chia bè rẽ phái thôn tính lẩn nhau, Chu Lệ Vương bằng chạy trốn sang nước
khác,đến ở đất Trệ.
Triều Đình nhà Chu không Vua
các Quan Đại Thần trong Triều chung nhau làm chính sự, hiệu là Cọng Hòa, tạm
thời điều hành đất nước nhà Chu.
Từ đây chiến tranh triền miên thôn tính lẩn
nhau xảy ra lần lần khắp phương Bắc, dân phương Bắc chạy loạn chạy giặc di cư
qua Bắc Văn Lang càng về sau càng lúc càng nhiều, dẫn đến mối họa mất Bắc Văn
Lang, biến Bắc Văn Lang thành Trung Nguyên, sau nầy trở thành Trung Quốc,
*
* *
Bắc Văn Lang chính là Trung
Nguyên, Trung Quốc, vì thế Việt Nam, và Trung Nguyên, Trung Quốc,là một dải đất
liền, trở thành hai nước láng giềng, cùng một điều kiện địa lý. Cho nên người
Việt Nam Văn Lang, và người Hoa Trung Quốc Bắc Văn Lang, đã có quan hệ lịch sử
rất lâu đời, từ thời đại Kinh Dương Vương, chuyển sang thời đại Hùng Vương, Bắc
Văn Lang trở thành Trung Nguyên rồi chuyển sang Trung Quốc, đều nằm trong chủng
tộc lớn Bách Việt, nói chung nước Văn Lang có Bách Việt.
Vì thế ở Trung Nguyên Trung Quốc,
vào thời đại Hùng Vương đã đánh dấu đặc tên nhiều con sông, như sông Dương, nói
về thời đại Kinh Dương Vương, sông Âu , sông Lạc, Âu Cơ, Lạc Long Quân, nói về
thời đại Hùng Vương.
Nước Văn Lang chia ra làm ba
miền, Nam Văn Lang, chính là nước Việt Nam
ngày nay, Trung Văn Lang, Bắc Văn Lang, chính là Trung Nguyên, Trung Quốc hiện
nay, hầu hết miền Giang Nam Lãnh Nam
Trung Quốc, từ sông Dương Tử Trường Giang trở vào, vì thế người Việt và người
Trung Hoa không những cùng một điều kiện về địa lý, mà còn về chủng tộc họ tộc
cũng rất giống nhau, trên một nguyên lý cơ bản là cùng chung Bách Việt Văn Lang
có niên đại lịch sử hơn 10 nghìn năm, từ thời Kinh Dương Vương, phát nguồn từ
thời đại Viêm Đế Thần Nông.
*
* *
HỒI THỨ BỐN MỐT
Văn Lang khó nuốt biết dường
bao.
Quân Gióng vùng lên quét sạch nào.
Tham tàn bạo ác quân ăn cướp.
Thây phơi chật đất thảm biết bao.
Giặc Hồ giặc Hung Nô, giặc Ân, vô cùng tàn bạo, phần
lớn Tướng Lĩnh của quân giặc, phần nhiều là yêu tinh quỉ dữ đầu thai, nhất là họ hàng của Hồ tinh, họ hàng
của Mộc tinh, họ hàng của Ngư tinh, đã bị quân Âu Việt, Lạc Việt, theo Quốc Tổ
Vua Hùng mở mang bờ cõi vào đất Lãnh Nam, con cái, cháu chắt, chút chút, họ
hàng Hồ tinh, Ngư tinh, Mộc tinh, đông
vô số lên đến hơn mười mấy vạn, đã bị quân Âu Việt, Lạc Việt quét sạch, hồn
chúng đầu thai về phương Bắc, có cơ hội là chúng đánh chiếm Văn Lang, tàn sát
dân Văn Lang, chúng bắt đàn bà con gái, hảm hiếp hoang dâm vô độ, chúng ăn thịt
cả trẻ con, uống máu những chàng trai trẻ, chúng bắt dân trồng cây ngược cây
Chết thì chúng giết, chúng
bắt đàn ông con trai làm đủ mọi chuyện nô lệ, nhịn đói nhịn khác, chúng đánh
đập hành hạ sống không được, chết cũng
không xong, những tội ác của giặc Ân phải nói là khủng khiếp, không có loại tội
ác nào mà chúng không làm.
Chúng bắt dân cắm trồng cây ngược.
Cây chết thời, chúng lột lấy da.
Nấu dầu, đâm, chém, chẳng tha.
Chúng chà chúng đạp tan thây nát nhừ.
Chúng hảm hiếp đàn bà con gá.
Chơi
đủ trò đến chết chẳng tha.
Trái ý thời chúng lột da.
Quăng cho rắn nuốt rắn xơi kinh hồn.
Ôi lũ giặc bạo tàn khác máu.
Hành
hạ dân đủ thứ dã man.
Gieo
bao tan tóc đau thương.
Cơ
Trời chuyển hóa Thánh Vương ra đời.
Long Vương Thánh Chúa xuống trần.
Đoàn quân Thánh Gióng diệt loài xâm lăng.
Binh Trời trở lại cõi trên.
Văn Lang
nhớ mãi công ơn binh Trời.
Đây nói về đoàn quân Thánh Gióng
sau khi quét sách ngoại xâm, phi ngược hướng về hướng Nam rồi lần lần biến đi
đâu mất. Nói về Gióng sau khi đánh tan quân Hồ, quân Ân, quân Hung Nô, Gióng
phi ngựa về hướng Nam ngựa đi nhanh như cơn bão vượt qua núi, bay qua sông, Gióng
không về thăm Mẹ, phi ngựa thẳng đến bồ đề, dừng ngựa lại uống nước bên bờ sông
Hồng, dấu chân ngựa Gióng lại in khắp nơi, Gióng vượt qua sông Hồng, đến thẳng
làng Xác Cáo bên bờ Hồ Tây.
Gióng chỉ xuống Hồ Xác Cáo nói, hỡi các
loài Hồ tinh, các ngươi tuy bỏ xác nơi đây, nhưng linh hồn các ngươi đã đầu
thai phương Bắc, kết cấu với vô số linh hồn Ngư tinh, Mộc tinh, cùng vô số các
loài Yêu tinh khác nữa, khắp địa cầu, các ngươi đã làm hại dân tộc Văn Lang
không biết bao lần. Nếu biết khôn hồn thời lo tu tâm dưỡng tánh hướng thiện,
thời mong được có ngày về Trời, không nên xâm lược làm hại đất nước Văn Lang
nữa.
Bằng không Thiên Ấn – Thiên Bút, ra đời tiêu
diệt linh hồn của các ngươi, thần thức anh linh các ngươi sẽ biến mất, các
ngươi sẽ không còn có cơ hội để được làm người, cũng không còn có cơ hội để làm
loài cầm thú nữa,
Nói xong Gióng giở cơm nấm ra ăn nghỉ chân
một chút rồi phi ngựa về Sóc Sơn, bỏ lại một đoạn roi sắt thép ở đây, ngựa Gióng phi đến đâu thời thành ao thành
vũng đến đó, đến chân Sóc Sơn, Gióng ghìm cương ngựa lại, ngựa Gióng hí lên
vang động đất trời, dẩm chân lia lịa đi tới đi lui xoay tròn bốn phía, trở thành
những ao vũng dày chi chít.
Gióng nhìn nhìn non xanh nước biếc lần cuối
rồi phi ngựa thẳng lên đỉnh núi cao.
Khi ấy có một người dân ở làng Mõ đang cày
ruộng gần núi Sóc Sơn, thấy Gióng dừng ngựa trước khi phi ngựa lên núi, người
dân làm ruộng ấy định chạy tới lạy Gióng,
nhưng ngựa Gióng đã phóng vút lên núi, người làm ruộng chỉ biết đứng
nhìn, trên đỉnh núi mây mù che phủ. Người làm ruộng còn đang phân vân, thời một
người cao lớn hiện ra trước mặt mách bảo, ta là Thần Núi Sóc Sơn, anh cứ trèo
lên đỉnh núi, Thánh Gióng đã về Trời, áo giáp ngựa, giáp người ở dưới gốc cây
Trầm Hương to lớn, còn mão thời treo lên nhánh Trầm Hương, hãy lấy gỗ Hương kia
mà tạc tượng Thánh Gióng.
Vu
Điền người tạc tượng Gióng, cũng được thờ ngôi phụ bên cạnh Thánh Gióng, trong
đền thờ Sóc Sơn.
* * *
HỒI
KẾT
PHONG
QUAN TIẾN CHỨC
Đông đã qua rồi xuân lại đến.
Phụng về múa hát, Hạt chơi mây.
Thôn quê thành thị, qua thời khốn.
Thái bình đầm ấm, cánh cò bay.
Độc lập Âu ca niềm hạnh phúc.
Non xanh nước biếc sắc hương đầy.
Kiếp vận xoay vần cơ tạo hóa.
Hết suy tới thịnh vốn xưa nay.
Hùng Huy Vương lâm triều, bá
Quan văn võ vào chầu đủ mặt, ai nấy nét mặt đầy hân hoan rạng rỡ.
Quan Lạc Hầu Thượng Thư tâu
rằng:
Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ: Đoàn
quân Thánh Gióng sau khi đánh tan quân
giặc, thời không trở về làng nữa mà tất cả lần lượt biến mất bay về Trời, cả
Triều Đình nghe Quan Lạc Hầu Thượng Thư tâu như thế ai nấy cũng đều sững sốt, có
chuyện như thế sao. Quan Lạc Hầu Thượng Thư, cũng đang trải qua cơn xúc động
ngừng giây lác rồi đọc tiếp. Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ:
- Như ba anh em nhà Ba Chạ, ở Làng Môi,
Làng Mòi.
- Đàn trẻ chăn trâu ở Hội Xá.
- Hai người câu cá trên Sông Hồng.
- Những người thợ săn.
- Anh em sinh đôi làm ruộng.
- Những người trồng tre.
Phi theo Gióng rồi lần lượt
biến mất, nhiều người trông thấy đàn trẻ chăn trâu ở Hội Xá, cũng như các vùng
lân cận ở Hội Xá sau khi đánh tan giặc Ân phi ngựa về núi Trâu rồi tất cả đều
biến đi đâu mất.
Năm anh em cùng sanh ra trong
một bọc. Ngũ Tài Kim- Mộc –Thủy- Hỏa –
Thổ, phi ngựa về núi ngũ hành biến mất, 35 người trai tráng khỏe mạnh Làng Y Na
không theo năm anh em Ngũ Hành hiện đang thống lãnh quân binh trấn giữ biên
giới Bắc Văn Lang.
- Ông Trấn, Ông Trâu, Ông Bạch Sam, phi ngựa
lên núi Tiên Du biến mất.
- Đàn Hổ, đàn Voi, đàn Sư Tử, đàn Chim Ưng,
cũng biến mất theo.
- Hai anh em Chủ Soái, Nguyên Dực Nguyên
Minh sau khi đánh tan quân giặc ngoại xâm phi ngựa theo Gióng đến Ngô Hạ, núi
Độc biến mất .
- Còn Gióng phi ngựa lên núi Sóc Sơn về
trời.
Cả Triều Đình nghe Quan Lạc
Hầu Thượng Thư tấu trình những kỳ tích đánh tan giặc Ân, giặc Hồ, giặc Hung Nô,
chỉ trong vòng có ba ngày tiêu diệt hơn 90 vạn quân đã là kinh hồn bạc vía, lại
nghe đoàn quân của Gióng lần lượt biến mất bay về Trời, chuyện lạ đời từ trước
đến nay chưa từng có. Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ:
Mẹ Gióng quê ở Làng Phù, tên
là Thị, tên thường gọi là bà Phù Thị.
- Phù
Thị mang thai Gióng ở Làng Đổng, khi bà Phù Thị sanh ra Gióng, bà đặc tên cho
Gióng là Phù Đổng, có
nghĩa là liên kết hai làng,
Làng Phù và Làng Đổng, những gì liên quan về Gióng Thần cùng các Quan cọng sự
làm việc cật lực thu thập thông tin Thần đã báo cáo lên Bệ Hạ, xin Bệ Hạ phán
xét phong Quan tiến Chức cho những người có công đối với non sông Tổ Quốc.
Hùng Huy Vương nói, quân Gióng là quân nhà
Trời đầu thai mượn xác trần, cứu non
sông Tổ Quốc Văn Lang, xong nhiệm vụ tất cả đều đồng loạt về Trời, bỏ lại xác
trần một cách bí mật, không ai có thể biết được.
Đến lúc bấy giờ Hùng Lang Công ở Kinh Đô
hợp phố Giao Chỉ Bắc Văn Lang từ chỗ ngồi đứng dậy, bước ra dâng tấu sớ những người có công đánh đuổi ngoại xâm vì nước
vì dân lên Hùng Huy Vương, xin lãnh ý chỉ Quốc Vương phong Quan tiến Chức, cho
những người còn sống cũng như những người đã chết, cũng như ổn định lại Bắc Văn
Lang trải qua một thời gian dài bất ổn.
Hùng Huy Vương nhận tất cả
tấu sớ rồi bãi Triều, rạng ngày hôm sau Hùng Huy Vương lâm Triều. Bá Quan Văn Võ
đủ mặt tung hô vạn tuế.
Hùng Huy Vương truyền chỉ.
Quan Lạc Hầu Thượng Thư đọc
chiếu chỉ phong ấn sắc lần lượt như sa .
- Trước truy phong Gióng, với công lao to lớn
đánh tan quân giặc ngoại xâm, cứu dân cứu nước.
Sắc phong Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương, và cho lập đền
thờ ở quê nhà hai làng, làng Phù và làng Đổng cúng tế hàng năm.
- Sắc phong Phù Thị mẹ của Gióng, Thánh Mẫu, được
phụng dưỡng ngang hàng với bậc Quốc Mẫu Nương Nương, khi qua đời được lập đền
thờ ở cạnh đền thờ của Gióng.
- Truy phong năm anh em ngũ tài, có công đánh
tan quân xâm lược cứu dân cứu nước.
Sắc phong ngũ Thánh, Kim
Thánh, Mộc Thánh, Thủy Thánh, Hỏa Thánh, Thổ Thánh, lập đền thờ nơi làng Y Na,
hàng năm cúng tế.
- Truy phong đàn trẻ chăn trâu, ở Hội Xá, cũng
như đàn trẻ chăn trâu các vùng lân cận Hội Xá, có công cứu dân cứu nước đánh
tan quân xâm lượt rồi phi về núi Trâu biến mất,
sắc phong Thiên Binh quân Trời, lập dinh thờ khắp nơi cúng Tế hàng năm.
- Truy phong ba anh em nhà Ba Chạ, có công theo
Gióng đánh tan quân xâm lược cứu dân cứu nước.
Sắc phong Tam Quan Trung
Thần, được lập đình miếu cúng tế hàng năm.
- Truy phong
hai người câu cá trên sông Hồng, có công theo Gióng đánh tan quân xâm
lược, cứu dân cứu nước.
Sắc phong Nhị Ngư Trung Thần,
được xây đình miếu trên sông tế lễ hàng năm.
- Truy phong những người thợ săn, có công theo
Gióng đánh ta quân xâm lược .
Sắc phong Sơn Linh Trung Thần,
được xây đình, miếu, cúng tế hàng năm.
- Truy phong những người làm ruộng, những người
trồng tre, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước.
Sắc phong Nông Linh Trung Thần,
lập đình, miếu, thờ phụng khắp nơi, cúng tế hàng năm.
- Truy phong đàn hổ, đàn voi, đàn sư tử, đàn
chim ưng, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước .
Sắc phong, Hổ Thần, Voi Thần,
Sư Tử Thần, Chim Ưng Thần, được lập miếu thờ khắp nơi cúng tế hàng năm.
- Truy phong hai anh em chủ soái Nguyên Dực,
Nguyên Minh, có công theo Gióng đánh tan quân xâm lược, cứu dân cứu nước.
Sắc phong Nhị Linh Trung Thánh,
được lập đền thờ tại Ngô Hạ núi Độc, thờ cúng hàng năm.
Đọc xong chiếu chỉ sắc phong
những người theo Gióng về Trời xong, trở về chỗ ngồi, thời kế tiếp Hùng Lang Công
đọc chiếu chỉ phong ấn sắc thứ hai.
Hùng Lang Công đọc chỉ ấn sắc
rằng, những người có công đánh tan quân xâm lược, cũng như có công chống trả
lại quân thù, cứu dân cứu nước, người sống cũng như người chết, được tăng phẩm
vị lên ba cấp, phong cho đất đai trăm mẫu, hưởng bổng lộc theo luật định của
Triều Đình, những Châu Phủ, Quận Huyện, chưa có người bổ nhiệm chủ quản, theo chiếu chỉ phong chức sắc bổ nhiệm về nơi
đó mà nhận chức, Quan Phủ, nhận chức Bố Chính.
- Truy phong Cao Hải, có công theo Gióng đánh
tan quân thù cứu dân cứu nước, phong lên hàng Vương, Cao Đại Vương.
Sắc phong chủ quản Bộ Châu
Diên, bảy Châu. bảy mươi Quận Huyện.
- Truy phong các Tướng Lĩnh, cố thủ cung thành,
cũng như các Tướng Lĩnh theo Gióng đánh tan quân xâm lược, được phong lên ba
cấp.
Sắc phong: hàng Tướng bổ
nhiệm về các Châu, Tử Dương Châu, Bắc Giang Châu, Lạc Giang Châu, Dương Giao
Châu, Kinh Giao Châu, Tây Giang Châu, Tây Tây Châu, Hạ Tây Châu, Giao Giao
Châu, Quý Linh Giao Châu, Thất Khê Châu, Đình Hải Châu, Cái Hải Châu, Phúc Hải
Châu, Đông Giao Châu, Hạ Hải Châu, Liểu Giao Châu, Lạc Trung Châu, Hạt Linh Châu,
Quế Điền Châu, Hợp Linh Châu. vân vân . . . còn nhiều các Châu khác nữa có hơn
30 Châu 200 mấy chục Quận Huyện.
Hàng phó Tướng bổ nhiệm về
các Quận Huyện, hàng trưởng đội, phó đội bổ nhiệm về các làng Xã.
Hai tháng sau Cao Hải thành hôn với Lạc Kim
Tiên, hôn lễ vô cùng long trọng, sanh con đẻ cái đầy đàn.
Nước Văn Lang thái bình độc
lập, hưng thịnh hơn 300 năm thời có biến loạn trở lại, muốn biết sự biến loạn đó
ra làm sao, nước Văn Lang sẽ như thế nào mời các bạn xem tiếp
Văn Lang chiến sự ba, ở vào
giai đoạn cuối thời các Vua Hùng thời sẽ
rõ.
* * *
Trang sử
Văn Lang chiến sự khép lại kết thúc.
Xốm dừa nhìn bãi dâu xanh.
Gió thu ru nhẹ lá cành làng quê.
Cánh cò bay lã bay la.
Bay qua xốm nước bờ tre ruộng
đồng.
Trâu nhìn đò chạy trên sông.
Mục đồng chăm chú nhìn trông
cánh dều.
Khói lam tìm ánh nắng chiều.
Đàn chim nhẹ cánh tìm về núi non.
Bao la trời nhớ đất thương.
Non xanh nước biết vấn vương đất
trời.
Ánh trăng vằng vặc đêm về.
À ơi tiếng hát ngọt lành mẹ ru.
Ánh đèn soi dáng người thân.
Sạm đen vì bởi gió sương tháng
ngày.
Đêm về nhớ ánh trăng đầy
Nhớ hừng đông dậy nhớ gà báo
tin.
Gâu gâu chó hỏi người đi.
Vườn cà làng Đổng có ai giữ gìn.
Người rằng ! Có một người hiền.
Tên là Phù Thị một mình không con.
Lâu rồi ở với Đức ông.
Vườn cà chăm sóc sớm hôm kể gì.
Nết na tứ Đức ai bì.
Người tuy xấu xí lòng đầy ngọc
châu.
Lòng vàng cứ mãi bay xa.
Đến tai Thượng Đế Trời Cha Chúa
Trời.
Huyền cơ chuyển biến đến người.
Long Vương Sùng Lãm xuống trần
đầu thai.
Vườn cà để lại dấu chân.
Phù Thị dẩm phải tượng lần bào
thai.
Huyền cơ chuyển vận éo le.
Phúc họa, họa phúc có ai nghĩ
lường.
Sau đây là chuyện của người.
Sử Kinh để lại cho người xem coi.
Sử Kinh là tấm gương soi.
Cho bao thế hệ đời sau răng mình.
CHỦ BÚT
NGUYỄN ĐỨC THÔNG
Điện Thoại 01632405946